Thứ Hai, 27 Tháng Tư, 2020 15:58

Câu chuyện về loài cá trong bữa ăn của Chúa Giêsu và các tông đồ

 

Trong Phúc Âm theo thánh Gioan (Ga 21, 1-14), Chúa Giêsu đã xuất hiện trước các môn đệ sau khi Phục Sinh, vào thời điểm họ lên thuyền đánh cá suốt đêm mà không thu hoạch được gì.

 

Khi cả nhóm phát hiện Chúa Giêsu trên bờ, ban đầu trong lúc mỏi mệt họ không nhận ra Thầy của mình, cho đến khi Người chỉ họ quăng lưới ở bên mạn phải con thuyền. Lưới lập tức nặng trĩu khi kéo lên, vì họ bắt được đến 153 con cá lớn. Phúc Âm ghi rõ các vị tông đồ bắt được cá, và thánh sử Gioan đi xa hơn khi cung cấp số lượng chính xác của mẻ cá. Thế nhưng, thánh nhân lại không đề cập đến loại cá gì, chỉ biết rằng các Thầy trò được ăn bữa sáng ngon miệng.

Dựa trên những dòng thông tin từ Phúc Âm và những giống cá bên trong biển Galilê, các nhà nghiên cứu thời nay đã khoanh vùng được ứng viên tiềm năng nhất từng xuất hiện trên thực đơn bữa sáng của khoảng 2.000 năm trước. Theo tư liệu khoa học, có 27 giống cá ở biển Galilê, nhưng chỉ có khoảng 10 loại thường được các ngư dân ở đây bắt được. Chúng được chia thành 3 nhóm: nhóm cá musht, nhóm cá mòi Kinneret và nhóm cá râu. Trong số này, cá mòi Kinneret bị loại ngay tức khắc vì kích thước quá nhỏ để có thể mắc vào lưới dân chài, và chúng thường được xử lý, bảo quản để giữ được lâu hơn. Trong khi đó, Kinh Thánh ghi lại các thánh tông đồ nướng cá trên lửa.

Biển hồ Galilê

Thánh sử Gioan mô tả những con cá mà họ bắt được có kích thước “lớn”, và giới nghiên cứu tìm kiếm giống cá đủ lớn để mắc vào lưới, nhưng không quá khổ đến mức họ phải chật vật dùng sức khi thâu lưới. Kích thước của cá râu cũng khá phù hợp, với chiều dài cá trưởng thành vào khoảng 1,2m và nặng đến 11kg. Thế nhưng, cá râu cần mồi để bắt và vì vậy cần đến lưỡi câu và dây, trong khi các thánh tông đồ lại quăng lưới. Như vậy chỉ còn lại musht, loài cá rô phi với tổng cộng 4 giống sinh sống ở biển Galilê. Một trong số này kích thước có thể lên đến gần nửa mét và thường nặng từ 1,8 - 2,2 kg. Một mẻ cá musht gồm 153 con có khả năng nặng đến 340 kg, điều này cũng giúp giải thích tại sao các môn đệ rất vất vả mới kéo được lưới khỏi mặt nước.

Cá musht thường được xem là loài cá từng rơi vào lưới của thánh tông đồ Phêrô, và vì vậy người bản xứ có thói quen gọi chúng là “cá của thánh Phêrô”. Nó cũng thuộc nhóm thường được bắt vào thời Kinh Thánh, và ngư dân thời đó luôn dùng lưới để bắt cá musht. Trong khi có vẻ như các nhà nghiên cứu đã tìm được ứng viên thích hợp cho loài cá xuất hiện trong bữa sáng hôm đó, hiện có một cách giải thích khác tại sao thánh sử Gioan không ghi lại cụ thể tên con cá trong bữa ăn. Theo đó, có thể con số 153 đóng vai trò biểu tượng cho con đường truyền đạo sau thời Chúa Phục Sinh.

Cá Musht là loài thường được đánh bắt ở biển hồ Galilê

Hai chuyên gia nghiên cứu Kinh Thánh Peter và Vanessa Steffens ghi nhận, vào thời điểm thánh Gioan ghi chép sử, chỉ có 153 loài cá được biết đến ở vùng Trung Ðông. Lúc này, việc loan báo Lời Chúa chủ yếu tập trung ở Israel, nhưng Chúa Giêsu chuẩn bị cho các thánh tông đồ mở rộng việc truyền đạo ra khắp nơi. Theo cách phân tích của hai chuyên gia, 153 con cá là biểu trưng cho toàn thể các dân tộc trên toàn cầu. Và do các thánh tông đồ đã là những ngư phủ “lưới người”, điều đó có nghĩa là Chúa Giêsu đã chỉ hướng cho họ hãy quăng lưới ra xa hơn nữa, vượt khỏi vùng đất mà họ chào đời.

 

BẠCH LINH

 

 

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm