Thứ Tư, 16 Tháng Chín, 2015 11:23

Hòa bình cho hôm nay

Liền sau Thế chiến II, các nước đã đồng ý thành lập Liên Hiệp Quốc và Hội đồng Bảo an, một đằng để chung lo vấn đề sức khỏe và môi trường..., đằng khác để giúp đối thoại và giải quyết những tranh chấp, hầu tránh được chiến tranh và chết chóc quá nhiều. Thế nhưng cho đến nay, chiến tranh vẫn xảy ra, không chỗ này thì chỗ khác, bởi mầm mống chiến tranh còn đó, mãi sâu trong lòng người, nên hủy diệt không nổi.

 

Chiến tranh xưa và nay

Cũng như thú vật, giống người thời săn bắt và hái quả dễ vì miếng ăn mà tranh giành và đánh nhau. Sau khi đã họp thành bộ lạc, rồi lãnh địa và vương quốc, thì giết nhau không phải là giữa đôi ba người nữa, mà là giữa những đoàn quân đông đảo, khiến máu chảy thành sông, thây chất thành núi, thật khủng khiếp. Nhất là với khí giới ngày càng tiến bộ, từ gươm giáo và cung nỏ chuyển sang súng tay, súng liên thanh và đại bác, máy bay, gần đây còn cả bom và đầu đạn hạt nhân với xác suất sát phạt tăng theo cấp số nhân nữa.

Chiến tranh không chỉ xảy ra giữa nước này với nước khác, mà còn giữa các khối liên minh đông đảo, thành chiến tranh toàn cầu. Riêng đầu thế kỷ XX, đã có hai cuộc thế chiến như vậy. Đó là Thế chiến I, kéo dài thừ 1914 đến 1918 với thương vong trên 37 triệu; Thế chiến II, kéo dài từ 1939 đến 1945 với số người chết quá 80 triệu kể cả thường dân. Bên cạnh những nấm mồ tập thể và những nghĩa trang mênh mông, còn có biết bao thành phố hoang tàn, đổ nát !

Ngày nay, tuy diễn đàn Liên Hiệp Quốc đã khiến các đại cường quốc không dám tự tung tự tác như xưa, nhưng cũng không ngăn nổi cảnh “cá lớn nuốt cá bé” như trên Biển Đông, cảnh khủng bố tinh thần của Al quaeda đưa chết chóc đến tận Tháp đôi và Tòa Bạch ốc ở Mỹ, hay của IS gieo kinh hoàng đến tận Paris luôn.

Mai ngày, rủi mà Thế chiến III xảy ra, thì sự kinh hoàng ấy sẽ phủ lên toàn địa cầu với bom đạn hạt nhân dưới đất, với súng bắn laser trên trời, từ các vệ tinh (nhân tạo) sát thủ, từ các tàu con thoi nằm yên trên quỹ đạo không gian, có khi từ mặt trăng luôn nữa.

Làm sao tránh được những mối đe dọa ấy đây? Liên Hiệp Quốc và Hội đồng Bảo an chỉ giúp được phần nào từ bên ngoài, lúc mà mầm mống chiến tranh lại nằm sâu bên trong, ở túi tham và thù hận. Tham ư? Đây là tham lợi muốn chiếm đất đai và vàng bạc; đây là tham sắc muốn đoạt vợ người ta; đây là tham danh và kiêu ngạo muốn bắt kẻ khác quy lụy, thần phục. Sân hận ư? Giận quá dễ sinh liều, khiến người ta đánh bom tự sát, thậm chí có thể ấn nút cho hỏa tiễn mang đầu đạn hạt nhân phóng đi.

Để diệt chính cái mầm chiến tranh là Tham và Sân ấy, thế giới cần đến tinh thần thoát tục của Phật giáo, sự quảng bá lòng diệt Dục (a-kâma, vô dục), vô Sân và đức Nhẫn.

Hòa bình và hòa điệu

Nếu hòa bình chỉ nói lên tình trạng không chiến tranh, thì đó mới chỉ là mặt tiêu cực của hòa bình. Một Hòa bình hoàn hảo không thể chấp nhận bất công, bất bình đẳng và sự thờ ơ trước cảnh túng khổ của người khác. Và thế cũng là Hòa điệu luôn.

Bất công, đó là khi kẻ thì ngồi trên đống của, nhà rộng thênh thang, người lại phải làm quần quật mà không đủ miếng ăn, phải chen chúc nhau trong những khu ổ chuột.

Bất bình đẳng, đó là khi có phân biệt đối xử giữa phụ nữ và đàn ông, giữa những tập cấp, tức giai cấp cha truyền con nối, với biết bao kẻ sinh ra đã thành Dalit, bị khinh rẻ không bằng con heo, con chó.

Nói chi đến quan hệ giữa người với người, khi sống bên nhau mà hầu hết không cần biết đến nhau, hoặc có biết thì cũng nhìn nhau bằng ánh mắt ghen tị hay hờ hững.

Ngày nay, phong trào tự do - dân chủ và bình quyền – bình đẳng đang xóa dần những phân biệt đối xử giữa người với người, nhưng để thiết lập những quan hệ thân thiết, thì phải ý thức rằng chúng ta cần đến nhau để bù trừ cho nhau, nhờ đó hạnh phúc thực sự. Không phải chỉ có bù trừ giữa nam và nữ, còn có bù đắp giữa nông dân và thợ rèn chẳng hạn, khi mà người thợ cần có gạo để ăn, và người làm ruộng cần lưỡi cày, lưỡi hái.

Để cảm nhận sự thiếu nhau như thế, chúng ta phải trở về với nguyên lý âm – dương đã chi phối cuộc sống Phương Đông xưa kia, từ trong gia đình ra đến xã hội, từ sự an khang thân xác lên đến thoải mái tinh thần. Về những hiệu quả tốt đẹp như thế, tôi xin lặp lại những gì đã nói trong tập Sống đạo với Phương Đông (tr.31-36)[1] như sau:

“Như Blondel phát hiện, người ta luôn tư tưởng trong những cặp đối nghịch như Sáng với Tối, Ác với Thiện, Trong với Ngoài, Có với Không.v.v... Phương Đông cũng thế thôi.

Có điều nếu Phương Tây thiên về lý trí, mà ý tưởng thì sáng sủa, rõ ràng, nên giới hạn rạch ròi, khó dung hợp nhau. Chứ Phương Đông thiên về trực giác, cảm nhận, nên những cặp đối nghịch của họ dính sát với thực tại, nhất là với sự sống, do đó nghiêng về bù trừ hơn là mâu thuẫn. Chính R.N. Tagore cũng nhận định như thế, khi ông nói đến âm dương trong đối lập sinh hóa, cái mà sanskrit gọi là Dvandva (nhị-lập)[2].

Bởi thế, dù luân lý Khổng giáo chủ trương “Nam nữ thụ thụ bất thân”, người Á Đông vẫn ưa đối đáp nam nữ hai bè, như trong hát trống quân, hát quan họ, và cách hát này còn tìm thấy cả bên Lào và Vân Nam nữa.[3]

Sự đối nghịch hướng hòa ấy sẽ đi vào mọi ngóc ngách của đời sống dù sinh lý hay tâm lý, dù luân lý hay xã hội.

Theo Hoàng đế nội kinh, vì khí dương thanh của trời và âm đục của đất giao cảm khiến cho sinh hóa điều hòa, và cũng vì hai khí nói trên hợp lại với nhau mà làm nên con người chúng ta, nên khí sinh lý của chúng ta cũng phải tương thông với khí trời đất ấy thì sức khỏe mới tốt, chứ nếu mất thăng bằng âm dương thì cơ thể phải phát bệnh.[4]

Nếu ở trong tâm, thì sự thăng bằng và điều hòa ấy là giữa đức Nghiêm âm và đức Ái dương, hoặc giữa Nhân thuộc dương và Nghĩa thuộc Âm[5]. Còn trong thuật trị quốc, để dân an và thuận theo, thì vừa phải có luật pháp nghiêm minh, vừa phải có từ tâm và đức độ.

Lòng ưa xứng đối và hài hòa thấm nhuần sâu xa hồn người Việt, Hoa, đến nỗi nó thể hiện trong cả văn chương và nghệ thuật. Ở hội họa thì đó là sự hài hòa của sơn thủy, cùng với cỏ hoa chim chóc. Ở kiến trúc, thì đây là dựng chùa ở bên nước biếc non xanh, xây Càn thanh của vua đối xứng với cung Khôn ninh của hoàng hậu, với điện Giao thái ở giữa để có giao hòa như giữa đất trời. Còn ở thơ, thì đây là song đối. Vâng, sự song đối luôn phải có ở phần chính, phần quan trọng nhất của bài thơ Thất ngôn bát cú hay Song thất lục bát. Mà đối đây là đối cả ý lẫn lời (cùng với đối bằng trắc), và càng đối hay thì thơ càng tuyệt.

Sau đây là một vài thí dụ quen thuộc :

Dấu xưa xe ngựa, hồn thu thảo,

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.

Hay:

Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc [quốc quốc],

Thương nhà mỏi miệng cái da da [gia gia].

Người Do thái thỉnh thoảng cũng đối đấy, nhưng chỉ đối lời mà không thêm ý, tức dùng lời khác để nói lại cùng một ý, rất thô sơ, như:

Con người là chi để Chúa nghĩ đến nó,

Con của loài người là gì để Chúa bận tâm về nó. (Tv.8)

Hay:

Một cái chồi từ gốc cây Giessê đâm ra.

Một cái mầm từ rễ cây vọt ra. (Is.11.1)

Chẳng những có đối trong thơ, mà câu đối còn vượt ra ngoài khuôn khổ thơ, do một thứ sính câu đối của cả người Việt lẫn người Trung Quốc, để rồi có mặt ở những chỗ trang trọng nhất trong nhà cũng như vào những dịp lễ lớn nhất như Tết.

*

Cặp đối nghịch mà tương tác đã phổ biến từ xa xưa, dù chưa có tên Âm dương, như bằng chứng tìm được trong Kinh Dịch. Căn bản thứ nhất của Kinh Dịch là các quẻ cùng với các vạch dài và vạch đứt. Vạch dài và vạch đứt, hay lẻ và chẵn, tiền thân của âm dương, sẽ nối kết với nhau mà làm nên các quẻ và tất cả. Thậm chí làm nên lưỡng cực dương âm bao quát nhất là Càn và Khôn, hay trời và đất, mà tất cả lệ thuộc vào, như một thứ Mệnh và Đạo.

Hai từ Âm dương xuất hiện trong Đạo đức kinh của Lão tử (thế kỷ V TCN), xuất hiện mới chỉ một lần, ở mãi phía cuối, trong chương XLII:

“Đạo sinh Nhất, Nhất sinh Nhị, Nhị sinh Tam, Tam sinh vạn vật, vạn vật phụ âm nhi bão dương. Xung khí dĩ vi hòa”.

Nhưng có lẽ Am dương có mặt từ rất sớm, như bằng chứng tìm thấy ngay cả trong Kinh Thi, Hoàng đế trạch kinh, Dịch truyện (truyền), v.v.[6]

Kể từ đó, âm dương ngày càng được nói đến và nói rất nhiều, đến nỗi gần như không một dòng triết lý nào lại không bàn về âm dương hay dựa vào nguyên lý âm dương mà suy luận, suy không những về sự hình thành thế giới, mà còn về con người, về sự sống và đạo làm người, về cả thuật cai trị lẫn xem phong thủy.

*

Về tạo thế, người xưa coi nền tảng của tất cả là Khí : khí âm và khí dương. Nhưng khí để phân thành âm dương và biến hóa được thì nó lại cần đến Lý, cái Lý ấy là “Nhất âm nhất dương”, nghĩa là có âm phải có dương, chúng tương bằng với nhau và tương tác vào nhau để có Xung hay kích động, mà cái đích của sự xung biến không phải là tan, loạn, nhưng Trung hòa: “Vạn vật đều cõng âm bồng dương, do xung nhau mà có được hòa” (Đạo đức kinh, ch.42). Vâng, trong bất cứ triết thuyết âm dương nào, người ta cũng gặp Dĩ vi hòa, giống như Đạo đức kinh.

Với Hoàng đế nội kinh, khí là bản nguyên của thiên địa nhân, nên “khí tương đắc tắc hòa, bất tương đắc tắc bệnh”.[7]

Với Hoài nam tử (178-122 TCN), thì “Âm dương giả, thừa thiên địa chi hòa” (Khí, tr.128-129)

Với Đổng trọng Thư (179-104 TCN), nguyên khí là gốc của thiên địa nhân, mà đặc tính của nguyên khí là (hướng về) Thuận hòa hay Trung hòa. Mà để có trung hòa thì phải có thăng bằng âm dương: “Hòa giả, thiên chi chính [cốt yếu] dã, âm dương bình dã”[8]. Và sự thăng bằng âm dương ấy phải diễn ra trong trời đất để có mưa thuận gió hòa, để rồi nương theo đường trời phải diễn ra trong xã hội để có thịnh vượng và bình ổn, và đây là phép cai trị đúng đắn gọi là Vương chính.[9]

Với Thái bình kinh (bộ sách kinh điển của Đạo giáo thời Đông Hán), thì “Âm dương cốt ở trung hòa. Đạt tới khí trung hòa thì vạn vật sinh sôi, nhân dân hòa thuận, vương trị thái bình”.[10]

Với Chu Hi, “âm dương biến hóa” khiến “vạn vật sinh sinh”.(Chu tử ngữ loại, quyển 74)

Khổng tử, tuy không nói gì đến Âm dương trong Đại học và Trung dung, nhưng cái hướng Trung hòa của âm dương rất rõ trong toàn cuốn Trung dung, nhất là ở câu: “Trung là cái gốc lớn của thiên hạ, Hòa là chỗ đạt đạo của thiên hạ. Trung hòa đến hết mức thì trời đất yên vị và vạn vật sinh hóa định ổn”. Còn trong Kinh Dịch, thì ở Hệ từ thượng (nếu quả Hệ từ là do đức Khổng viết), ngài cũng nói rõ: “Nhất âm nhất dương chi vị đạo” sẽ sinh biến hóa ổn định mãi mãi, "Sinh sinh chi vị Dịch”, để sống theo đó thì là Thiện, thành được theo đó thì là Tính.

*

Trung hòa nói đây không được hiểu là Tĩnh hòa, hay do Tĩnh mà có, nhưng Động hòa và do Động mà nên: "Xung khí dĩ vi hòa”, nghĩa là do xung động tương giao tương tác giữa hai khí âm dương, khiến hòa đây là sinh sinh biến hóa một cách điều hòa, ổn định. Sở dĩ âm dương xung tác mạnh như thế, vì đối nghịch âm dương không chỉ là đối nghịch ý tưởng lạnh lẽo, mà đối nghịch phân cực (polarisation), như trong lãnh vực điện từ ấy.

Ấn Độ cũng chủ trương biến dịch do tương tác âm dương, với lực (rajas) đã tiềm sẵn trong âm (tamas) và dương (sattva) để có sự hấp dẫn và tương tác đó. Cho nên, tuy ba đấy mà là hai, để tất cả thành nhị lập, dvandva, khiến bù trừ mà sinh sinh hóa hóa.”

 

Nếu nguyên lý âm – dương được diễn giải tuyệt vời trong sách Đạo đức kinh của Lão tử, thì thực ra nó đã được sống nghiệm từ lâu trước trong khắp vùng Đông Nam Á (xưa Pháp gọi là Đông dương), trong đó có Việt Nam (xưa là Âu Lạc, rồi Đại Việt) vốn theo văn minh mẫu hệ, như nhận định của những học giả Pháp là Montandin và Eveline Porée Maspero[11]. Chẳng những nguyên lý âm dương thống trị vùng Đông Á, nó cũng phổ cập khắp vùng Nam Á nữa dưới danh xưng Tam cách (tri-guna) : âm dương lực.

Nguyên lý âm – dương nghiêng về bù trừ, nhờ đó sinh Hòa thái. Hòa đây là do “khí tương đắc” trong cơ thể để có lành mạnh. Đây cũng là do sự tương thông âm dương giữa trời đất, nhờ đó có mưa thuận gió hòa và ruộng lúa tốt tươi. Đây còn là do sự kính trên nhường dưới trong nhà khiến gia đình êm ấm. Và do thuận hòa trong nước khi vua quan liêm chính, lấy đức trị dân.

Sự hòa hợp lý tưởng ấy đã thành sự thực vào thế kỷ XX với phong trào Bất bạo động do Mahâtma Gandhi khởi xướng. Bất bạo động theo Gandhi, đó là Tình yêu không biên giới, dù đây là biên giới chủng tộc, quốc gia hay tôn giáo. Bắt đầu, ông lãnh đạo cuộc đấu tranh không gươm giáo, không hận thù để giải thoát nước Ấn khỏi ách đô hộ của người Anh. Kế đó ông kêu gọi sự hòa hợp toàn dân, giữa Hồi giáo và Ấn giáo. Gandhi đã thành công khá tốt đẹp trong nước, và ngôi mộ ông ở Tân Đê li ngày nào cũng có người đến viếng và đặt vòng hoa tưởng niệm.

Phong trào Bất bạo động hay Tình yêu không biên giới của ông còn lan rộng tới Âu Mỹ nữa. Tại châu Âu, nó thúc đẩy người ta xuống đường chống chiến tranh (phong trào phản chiến). Còn bên Hoa kỳ, nó gây những cuộc biểu tình chống phân biệt sắc da do mục sư Matin Luther King dẫn đầu, mà kết quả là ngày nay Hiệp chúng quốc ấy đã có một tổng thống không phải da trắng.

Sự đóng góp có thể của Ky tô giáo cho Hòa bình và hòa điệu thế giới

Phong trào do Gandhi khởi xướng đã ảnh hưởng sâu rộng đến thế trong một thời gian khá dài, phong trào ấy thực ra đã được cảm hứng từ trong Phúc âm đấy. Số là khi còn học Luật ở Luân đôn, Gandhi đã phát hiện cuốn Tin mừng và say sưa nghiền ngẫm về Bài giảng trên núi với những lời Chúa kêu gọi “Yêu kẻ thù” và “Làm ơn cho kẻ làm hại mình”. Cũng vì yêu thích những tư tưởng rất nhân đạo này mà ông đã kết thân với tác giả của bộ sách Chiến tranh và Hòa bình: Léon Tolstoi.

Gandhi đặt tên cho phong trào Tình yêu không biên giới, hay bất phân thân-thù ấy là Bất bạo động. Thật ra Bất bạo động hay Giới sát (Ahimsa) chỉ là một trong Ngũ giới của chung dân Ấn, dù trong Ấn giáo, Kỳ na giáo (Jaina) hay Phật giáo cũng vậy. Tuy người ta không dám giết một con sâu, cái kiến, nhưng người ta không ngại sát nhân, khi mà vẫn còn chiến tranh giữa Ấn độ với Pakistan, vẫn có bắn giết nhau giữa người theo đạo Hồi và người theo Ấn giáo ở Kashmira. Do đó, A-himsa chẳng liên quan gì đến lòng yêu kẻ thù nói đến trong Phúc âm cả.

Yêu kẻ thù là một tình yêu vô cùng khó, khi mà luân lý Trung quốc vẫn khuyến khích việc trả thù cho cha mẹ, luật Maisen vẫn cho phép “Mắt đền mắt, răng đền răng”.

Người ta có thể bảo : -Nói thì dễ, làm được mới khó! Nhưng quả thực trên thập giá Chúa Giêsu đã xin Thiên Chúa tha cho kẻ giết mình; rồi theo chân Chúa, Têphanô và ức triệu tử đạo cũng làm được như vậy. Và bắt chước Đấng mà Gandhi vô cùng tôn kính, con người được dân Ấn tôn xưng là Mahâtma (Đại tâm, Đại thánh) và Cha (Bapu) ấy cũng xin tha cho kẻ giết mình luôn.

Quảng bá một vài tư tưởng Phúc âm, Gandhi đã làm được cho thế giới nhiều đến thế, vậy thì với cả cuốn Phúc âm, với Chúa Thánh Thần hoạt động trong Hội thánh, chả lẽ hai tỷ người Ky tô giáo chúng ta không thể đóng góp cho Hòa bình và Hòa điệu thế giới gấp ngàn vạn lần Gandhi hay sao?

Tin mừng toàn diện ư? Tin mừng ấy, theo Gioan, quy về luật lệnh duy nhất là Yêu thương, khi mà Yêu thương không chỉ phát xuất từ Thiên Chúa, mà là chính bản chất Thiên Chúa (1Gio.4.16).

Tình yêu ấy vượt mọi biên cương, khi mà Người thân cận (plêsios) không chỉ là giữa Do thái với nhau, mà cả người Samaritanô hay người ngoại (Luc.10.29-37) và kẻ thù nữa (Luc.6.27-30).

Không chỉ vượt mọi biên giới, tình yêu Chúa mang tới còn vượt mọi mức độ luôn. Và đây là yêu nhau như Con Thiên Chúa thành người đã yêu chúng ta, yêu đến nỗi xuống trần để chia sẻ số phận làm người, rồi chịu chết thê thảm và nhục nhã trên thập tự để cứu chúng ta khỏi sự tội và sự chết:

-“Không ai yêu hơn kẻ thí mạng sống mình vì người mình yêu.” (Gio.15.13).

Yêu nhau thì phải thân thiết, nên một với nhau. Mà mẫu mực là chính sự nên một tuyệt đối và tuyệt vời giữa Thiên Chúa Cha với Thiên Chúa Con (Gio.17.21). Thân thiết với nhau mà được như vậy, thì quả là Thiên đường tại thế, không còn gì hạnh phúc hơn. Sự hiệp nhất và hạnh phúc ấy, Hội thánh thời tông đồ đã đạt được, khi mà Công vụ tông đồ hay nhắc đến trạng thái Ý hợp tâm đầu (homo-thumadon) và Niềm hưng phần (agalliasis) của cộng đồng tín hữu Giêrusalem. Ý hợp tâm đầu đến nỗi tự bán ruộng vườn, đem tiền nộp cho thánh Phêrô để ngài chia sẻ cho kẻ túng thiếu.

Tình thương ấy cũng thể hiện trong các việc từ thiện, bắt đầu là chăm lo bữa ăn cho các bà góa, và người ta đã cử bảy phục dịch viên (diakonos) lo việc này. Sau khi Hội thánh đã lan rộng khắp nơi, người ta dựng các nhà cứu tế, tế bần (hospitium) để đón tiếp các người già cô độc, người không cơm ăn, nhà ở và người bệnh tật luôn. Những bệnh nhân nghèo ấy sẽ được chữa trị miễn phí, và đây là tiền thân của các bệnh viện (hôpital) sau này. Nay, thì từ các nhà dòng mọc lên không biết bao viện cô nhi, dưỡng lão, trại tế bần, trại cùi... Và một trong những tiên phong từ thiện ấy là Mẹ Têrêsa Calcutta đã được giải thưởng Nobel hòa bình năm 1979.

Để đóng góp cho Hòa bình và Tình Liên đới hôm nay, một đằng chúng ta hãy cầu nguyện xin Chúa Thành Thần làm việc bên trong các tâm hồn và giữa lòng Hội thánh, đằng khác chúng ta sẽ hăng say hơn trong các công cuộc từ thiện, cố gắng sống hiệp nhất trong gia đình và liên kết trong giáo xứ, đồng thời quan tâm đến người xung quanh và tận tình giúp đỡ họ, nhờ đó quảng bá sâu rộng về Tình yêu thương không biên giới mà Chúa mang đến cho chúng ta, mà Gandhi đã lấy xây dựng nên một phong trào có tầm ảnh hưởng rộng lớn trong thế kỷ XX. ?

Hoành Sơn


[1].  xem trong Công giáo và Dân tộc nguyệt san số 125, xx. tr.25-29.

[2].  Xx. Thực hiện toàn mãn (Sâdhana), An tiêm, tr.127.

[3].  Xx. Hoành sơn, Hội nhập văn hóa và tầng nền tâm hệ Việt, Hợp tuyển TH.16, tr.68.

[4].  Xx. Trương lập Văn, Triết học phương Đông : Khí, Nhà xuất bản Khoa học xã hội (bản dịch Việt ngữ), 2000, tr. 104-105; 107-109.

[5].  Theo tôi, vì Ái và Nhân có khí vị mềm nên coi là âm mới phải, còn Nghiêm và Nghĩa lại thuộc cương nên không thể không coi là dương

 

[6].  Xx. Lưu Bái Lâm, Phong thủy, do Đinh Công Kỳ dịch, NXB Đà nẵng, 2001, tr.12-14.

[7].  Trương Lập Văn, Triết học phương đông: Tâm, NXBKHXH., 1999, tr.160.

 

[8].  Trưong lập Văn, Triết học phương đông: Lý, NXBKHXH,1998, tr. 135.

[9].  Xx. Khí, tr. 133-149.

[10].  Xx. Ibid., tr. 197.

[11].  Xx. Sống đạo với Phương Đông, tr. 42.

 

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm