Thứ Hai, 02 Tháng Năm, 2016 11:28

Linh mục khu ổ chuột

Từ khi đến Calcutta, Ấn Độ vào năm 1965, linh mục người Pháp Francois Laborde đã chia sẻ cuộc sống thường nhật của những người nghèo hèn nhất trong các khu ổ chuột tồi tàn và trong 9 mái ấm dành cho trẻ khuyết tật do ngài sáng lập.

Cha Laborde băng qua các máng nước lộ thiên và luồn lách trong các ngõ hẻm bẩn thỉu ở slum (từ chỉ các khu ổ chuột ở Ấn Độ) thuộc “Coal Depot” (Bãi than đá)… Qua hình dáng mảnh khảnh, nhanh nhẹn và nụ cười trong sáng, nào ai đoán được cha đã 89 tuổi? Cha là người quen thuộc của khu dân nghèo ở bên dưới tuyến đường cao tốc phía nam thành phố Calcutta, nơi có 2.500 người đang sống chen chúc.

Bùn thối bao phủ mọi sự

Khu ổ chuột là những cống rãnh ngập đầy chất thải. Những đứa trẻ rách rưới, thò lò mũi nước và suy dinh dưỡng. Những con chó rụng lông, cũng đói khát như người. Chưa nói đến nạn ô nhiễm do dầu cặn đen từ đường cao tốc ồn ào ở ngay bên trên đổ xuống. Ở đây không có nước máy, điện hay những điều kiện vệ sinh cần thiết. Và vì sông Hooghly sát ngay bên, nên vào thời kỳ gió mùa, một lớp bùn hôi hám bao phủ mọi sự.

Tại nơi ô uế đó, nhiều bà mẹ trẻ tươi cười và rất phẩm cách, trong bộ váy sari sạch sẽ không chê vào đâu được, đến trình các trẻ sơ sinh của mình cho vị tu sĩ già nua. Những em bé này được hưởng lợi từ chương trình y tế của Chính phủ Ấn do cha Laborde đề xuất cho khu ổ chuột.

Ngài hỏi han mỗi bà mẹ bằng tiếng Ấn, về tuổi tác và sức khỏe em bé, rồi chăm chú nhìn vào các biểu đồ tăng trưởng của chúng, được trình bày bởi các nhân viên xã hội do ngài đào tạo. “Ngài đã dạy chúng tôi mọi điều”, Panma Salkar, một phụ nữ theo Ấn giáo, xác nhận. Từ 36 năm nay, bà đã làm việc với vị linh mục và điều phối 10 nhân viên hưởng lương của 3 trung tâm giáo dục phụ nữ trong khu ổ chuột.

Sự hiện diện của ngài đem lại niềm vui cho các gia đình. Mọi người đều xem vị linh mục Pháp này như “người nhà”. Ngài từng trải qua 10 năm trong một slum tương tự Coal Depot, cũng chịu đựng mùi hôi thối khó chịu và tiếng ồn không dứt…

“Với và vì những người nghèo hèn nhất”

Tại sao ngài đã chọn chia sẻ một cuộc đời như thế? Tất cả bắt đầu từ câu nói của một cặp vợ chồng nghèo. Năm 1965, cha đã trọ tại nhà họ, trong một slum của thành phố Neyveli. Họ nói với cha: “Nếu các linh mục giàu có, vì được Chúa chúc lành, còn nếu chúng con nghèo khó, chính vì bị Chúa chúc dữ”.

Lời nói này đã làm ngài thêm mong muốn đến ở trong khu ổ chuột, nơi sinh sống của một nửa trong tổng số 15 triệu dân Calcutta. “Lấy quyền gì mà tôi được ăn ở tốt hơn các anh em tôi ?”, cha nhấn mạnh, khi nhắc lại đoàn sủng của tu hội Prado mà ngài là thành viên, đó là “làm linh mục với và vì những người nghèo hèn nhất”.

Hơn nữa, đối với vị thừa sai cho người nghèo này, việc chọn sống đức khó nghèo đến tận cùng lại càng có ý nghĩa hơn khi giống hình ảnh Thiên Chúa. Ngay từ thời niên thiếu, việc phục vụ Chúa và tha nhân đã trở nên cần thiết đối với chàng trai Francois. Đến độ cậu đã trải nghiệm trong vài tháng sự thanh tĩnh nhặt nhiệm của Đan viện Grande Chartreuse. Ngài kể lại : “Tôi biết hai đan viện lớn, Chartreuse và slum. Bởi vì những người nghèo này, tuy phải trải qua những nỗi khốn khổ khó tưởng tượng được nhưng họ không hề cam chịu; họ vẫn cầu nguyện theo cách mà chúng ta không thể thấy, và Chúa Thánh Thần tác động lên họ để giúp họ kiên vững”.

Thích Ấn Độ từ thuở nhỏ

Chàng thanh niên Francois sau đó chọn vào Chủng viện Dòng “Prado”, ở ngoại ô thành phố Lyon, nơi anh tiếp tục dạy học trong mười năm, sau khi thụ phong linh mục và học thêm thần học. Trong hai năm, cha đã khám phá miền nông thôn trong tư cách chánh xứ của các giáo xứ ở tỉnh Cher (Pháp). Cuối cùng, tháng 1.1965, ngài lên tàu đến Ấn Độ.

Cha Francois Laborde cho biết mình thích Ấn Độ ngay từ thuở nhỏ, khi một trong các người anh của ngài làm cho ngài mô hình một ngôi đền Ấn giáo, và đến tuổi niên thiếu, cha bắt đầu đọc các tác phẩm của các nhà truyền giáo Dòng Tên.

Sau nhiều lần lưu lại ở khu ổ chuột Neyveli, rồi giữa một làng quê, và cả tại nơi cư trú của ngư dân, linh mục Dòng Prado ấy, tháng 10.1965, lại đến thủ phủ bang Bengal - thành phố Calcutta: “La bàn của tôi chỉ hướng cố định về Calcutta, tôi không thể lý giải tại sao… Tôi đã nghe nói đôi chút về Mẹ Têrêsa và hiểu rằng có rất nhiều người nghèo ở đó”. Thế rồi, chính tại slum Pilkhâna, ngài đã định cư trong 11 năm.

Kề cận thổ dân và bệnh nhân phong 

Để giúp đỡ hàng ngàn người theo Ấn giáo phải tị nạn, đang cạn kiệt của cải và sức lực, năm 1971, cha Francois Laborde cùng các Kitô hữu sáng lập ủy ban Seva Sangh Samiti. Ủy ban này khởi đầu cho công cuộc “truyền giáo” mà nhà văn Dominique Lapierre lấy cảm hứng cho tác phẩm ăn khách của ông, mang tựa đề La Cité de la joie (Thành phố của niềm vui - 1985), được dựng thành phim nhờ đạo diễn Roland Joffé (1992). Linh mục Paul Lambert, người hùng trong tác phẩm, được lấy hình mẫu từ cha Francois Laborde và tu sĩ người Thụy Sĩ Gaston Dayanand.

Khi bắt đầu được nhiều người biết đến, cha Laborde cảm thấy phải rời Pilkhâna. Ngài xin giám mục phái mình đi coi sóc giáo xứ ở Andul Road. Nơi đây, do xúc động trước việc những thổ dân Adivasis bị người Ấn Độ khinh bỉ, nên cha cùng họ mua một mảnh đất, rồi dần dần xây nên một khu phố. Một nhóm Thanh Lao Công (Thanh niên Lao động Công giáo) cùng tham gia: họ trở thành người đồng hành và đào tạo họ theo đời sống tu hội Prado.

Cũng trong những năm ấy, cha thường dâng thánh lễ tại các tu viện Dòng Thừa sai Bác ái do Mẹ Têrêsa sáng lập. Chính các nữ tu đã giúp ngài “yêu mến bệnh nhân phong bởi tự nhiên thì tôi không muốn đi đến với họ. Nhưng nếu các chị đến được với bệnh nhân, tại sao tôi lại không?”.

Tiếp đón người khuyết tật

Ngày nay, Francois Laborde sống tại Ashaneer, “Ngôi nhà hy vọng”, phía nam Calcutta, với 160 em bị hội chứng Down hoặc thiểu năng trí tuệ cùng 10 nhân viên giỏi và nhân hậu. Ashaneer là một trong 9 mái ấm của tổ chức Howrah South Point mà ngài đã thành lập để tiếp đón thanh thiếu niên khuyết tật từ các gia đình nghèo khó nhất, vì các phụ huynh sung túc hơn có thể trả chi phí cho con vào một trung tâm công lập.

Trẻ em khuyết tật cần một không gian tự do và an toàn để hoạt động. Tuy nhiên, điều này không bao giờ có trong một slum. Do đó, các em thường sống khép kín”, vị linh mục bình luận và tiếc cho xã hội Ấn quá coi nhẹ vấn đề này. Chính vì lý do đó mà tại Ashaneer và những mái ấm khác của Howrah South Point, các phụ huynh thường gặp nhau để trao đổi: “Ở nơi khác, không có chỗ cho họ, nhưng ở đây, những bậc cha mẹ này được hưởng mọi quyền lợi”.

Lúc bắt đầu thành lập tổ chức Howrah South Point, vị linh mục người Pháp đã học được rất nhiều từ một nữ bác sĩ chuyên khoa chấn thương chỉnh hình người Đan Mạch. Cha kể: “Nhờ chị ấy, tôi đã biết cách để giúp các em nhỏ phản ứng tốt hơn…”. Chỉ cần vào lớp học và quan sát các em thiếu nhi, tất cả đều chải tóc gọn gàng và tươi cười trong bộ đồng phục áo sơ mi tay ngắn màu đỏ sọc trắng và quần tây màu đỏ sẫm, để xác nhận mái ấm này thực sự là một địa điểm đầy hy vọng. Một nơi mà các em, dù thuộc tôn giáo nào, được gợi sự hiếu kỳ, được khuyến khích và yêu mến. Nơi đây mỗi sáng mai, quy tụ trong đại sảnh ở lối vào, các em cầu nguyện chung với nhau, mắt hướng về một trong ba bức ảnh biểu hiện đức tin của mỗi em: một vị thần Ấn giáo, ảnh đền thờ La Mecque và Đức Trinh nữ Maria. 

VIẾT HIỆP (theo báo La Croix)

 

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm