Thứ Sáu, 05 Tháng Bảy, 2019 15:07

Phép lạ tại đan viện Thánh Odile

 

Một đan viện ở bang Bayern (Ðức) đã có những bước chuyển biến không ngờ để có thể cưu mang 5.000 dân tị nạn sau khi kết thúc thế chiến thứ hai.

 

Ngày nay, thị trấn Eresing là một ngôi làng nhỏ chỉ vỏn vẹn 2.000 dân ở vùng thôn quê yên ả của bang Bayern, miền nam nước Ðức. Tuy nhiên, ngay sau khi kết thúc đệ nhị thế chiến, cách ngôi làng nên thơ và đẹp như tranh vẽ vài cây số là một đan viện nhận nuôi những nạn nhân của phong trào Ðức Quốc xã bài trừ Do Thái. Ðể hiểu được nguồn cơn đằng sau nguyên nhân đan viện thuộc một nhánh của dòng Biển Ðức này lại mở cửa cho người tị nạn, cần phải quay ngược dòng lịch sử về khởi đầu của hội dòng này ở Eresing.

Các em nhỏ tại đan viện vào năm 1946

 

Sự trái ngược

Trong thế kỷ thứ 7, Eresing là một trong những vùng được cải đạo sang Công giáo nhờ vào các tu sĩ của dòng Thánh Augustinô. Họ xây dựng một tu viện và trường dòng vốn nhanh chóng trở thành một trong những trung tâm giáo dục bậc cao quan trọng của miền Tây Âu. Năm 1884, cha Andreas Amrhein, một linh mục dòng Biển Ðức đến Beuron, vùng Danube, đang tìm kiếm địa điểm xây dựng một cộng đoàn mới có thể kết hợp đời sống đan tu với việc truyền giáo, điều mà ngài cảm thấy rằng Beuron vẫn chưa thích hợp.

Ban đầu, cha dừng chân ở một thị trấn của bang Bayern là Reichenbach am Regen, nhưng sau khi phát hiện nơi này quá xa xôi, vị linh mục chuyển đến Emmin, gần Eresing và mua lại cụm công trình tu viện cũ ở đây. Ðó là thời điểm hội dòng Thánh Odile thành lập, là một nhánh của dòng Biển Ðức. Sau nhiều năm, đan viện Thánh Odile trở thành một khu phức hợp với quy mô lớn, đầy đủ các khu vực như nông nghiệp, bệnh xá, nhà khách, nhà in. Bệnh xá được trang bị những thiết bị tối tân nhất thời ấy, và có lẽ vì thế mà vào năm 1941, lực lượng Gestapo của Ðức Quốc xã quyết định đóng chiếm đan viện, mở rộng bệnh xá và biến nó thành bệnh viện quân sự.

 

Trong một diễn biến hoàn toàn ngược lại sau đó, bệnh viện của Ðức Quốc xã là lý do tại sao đan viện Thánh Odile lại trở thành một trong những trại dành cho người tị nạn tại Ðức trong giai đoạn 1945 - 1947. Trại Thánh Odile được thành lập vào năm kết thúc đệ nhị thế chiến, và trong 3 năm sau đó đã đón ít nhất 5.000 người, đa số là dân tị nạn Do Thái tự gọi bản thân là Sh’erit ha-Pletah, “những người sống sót còn lại”. Bên cạnh bệnh viện, được phần lớn các bác sĩ Do Thái quản lý, nơi đây còn đặt trường học, lực lượng cảnh sát và nhà hộ sinh. Khoảng 450 trẻ là con của những người tị nạn đã chào đời tại đan viện trong những năm sau chiến tranh.

Sự lột xác và cứu rỗi

Gần đây, nhà mẹ của hội dòng Thánh Odile, cùng với Ðại học Munich và Bảo tàng Do Thái Munich, đã tổ chức 3 ngày hội thảo học thuật nhằm nghiên cứu khía cạnh từng bị lãng quên trong lịch sử đan viện. Tạp chí Smithsonian dẫn lời Atina Grossmann, giáo sư sử học thuộc Cooper Union ở New York, thừa nhận rằng giới sử gia không rõ bằng cách nào những người sống sót sau nạn diệt chủng lại phát hiện về sự tồn tại của bệnh viện quân sự Thánh Odile.

Đan viện Thánh Odile toạ lạc tại vùng thôn quê yên ả của bang Bayern

 

Theo chia sẻ của ông Zalman Grinberg, người từng đảm nhiệm vị trí bác sĩ giám đốc đầu tiên là người Do Thái tại bệnh viện này, khu trại tị nạn đã hình thành nhờ vào sáng kiến của bản thân ông và sự trợ giúp của tổ chức Chữ Thập Ðỏ Quốc tế. Ông Grinberg đã biết về sự tồn tại của một bệnh viện tại đan viện Thánh Odile từ một bác sĩ Do Thái khác ở Schwabhausen, gần trại tập trung Dachau. Cũng chính ông này đã tìm cách thuyết phục các chức sắc tại địa phương cho phép người tị nạn tạm trú tại những trại cũ của lính Ðức.

Kế đến, bác sĩ Grinberg gọi điện cho một bác sĩ trưởng khoa tại bệnh viện quân y Thánh Odile, tự xưng là thành viên của tổ chức Chữ Thập Ðỏ Quốc tế và nói người này phải tiếp nhận những nạn nhân của chiến tranh. Phương pháp lại có hiệu quả và vài ngày sau, binh lính Mỹ sắp xếp chuyển đợt người tị nạn đầu tiên đến bệnh viện. Ông Grinberg được đề cử vào chức vụ bác sĩ giám đốc. Trong vài tháng kế tiếp, lại có thêm những người tị nạn tự tìm đến đan viện cho đến khi các trại tập trung cuối cùng bị đóng cửa.

Bệnh viện là nơi trú chân cho 5.000 người

 

Tuy nhiên, như các học giả đã giải thích tại hội thảo, những người ở bệnh viện - trại tị nạn Thánh Odile trên thực tế đa số đến từ Liên Xô, nơi nhiều dân Do Thái gốc Ðông Âu tạm lánh dưới thời Ðức Quốc xã. Nhiều người đến trại trong tình trạng bệnh tật, như lao phổi và nhiễm trùng da, gây ra do môi trường khủng khiếp của trại tập trung. Không may, một số bệnh nhân không thể sống sót dù đã nhận được sự chăm sóc tức thời của các bác sĩ và y tá. Hiện vẫn còn hơn 60 nấm mồ thuộc về các nạn nhân thời đó, sát bên nghĩa trang dành cho các tu sĩ.

Vai trò của các tu sĩ cũng được thảo luận tại hội thảo. Theo tiến sĩ Evita Wiecki, giáo sư lịch sử của Ðại học Munich, họ vô cùng nản lòng và thoái chí vì không thể tiếp tục đời sống theo linh đạo của thánh Biển Ðức trong giai đoạn Ðức Quốc xã chiếm đóng. Vì thế, khi có thể hỗ trợ các nạn nhân chiến tranh, họ cảm thấy một lần nữa có thể sống lại với ơn gọi. “Ngày nay, chúng tôi rất tự hào vì bệnh viện này”, cha Cyril Schaefer, người đứng đầu bộ phận in ấn của đan viện cho biết. “Và nghĩ về những phép lạ đã xuất hiện trong vài năm ngắn ngủi (sau chiến tranh), chúng tôi buộc phải nói rằng, việc đàn áp đan viện dưới thời Ðức Quốc xã và sự chuyển mình trở thành bệnh viện của nó có lẽ là sự kiện quan trọng nhất từng xảy đến trong quá trình tồn tại của hội dòng”, theo cha Schaefer.

ÐỊNH NGUYỄN

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm