Thứ Sáu, 30 Tháng Mười, 2020 16:05

Vị giám mục bác học

 

Là người có công trong việc thành lập Ðại học Vienna (Áo) trước khi trở thành Giám mục Halberstadt, Ðức cha Albert xứ Saxony được biết đến nhờ vào sự đóng góp vào lĩnh vực luận lý học và triết học tự nhiên.

 

Sinh thời, Ðức cha Albert xứ Saxony đã viết nhiều chú giải về các định luật vật lý của Aristotle và nhận được sự đón đọc rộng rãi. Những sự phân tích của ngài giúp phổ biến những ý tưởng mới mẻ về vật lý khắp Trung Âu vào thời bấy giờ. Cùng với nhà triết học người Pháp Jean Buridan (khoảng năm 1300 và sau 1358), Ðức cha góp phần phát triển lý thuyết đóng vai trò tiền đề cho định luật quán tính hiện đại.

 

Liên tiếp làm hiệu trưởng đại học

Ðức cha Albert xứ Saxony chào đời vào khoảng năm 1320 tại Rickensdorf thuộc giáo phận Halberstadt, gần Helmstedt. Cậu bé Albert là con trai của một người nông dân xuất thân từ ngôi làng nhỏ. Tuy nhiên, nhờ vào tài năng và trí thông minh hơn người, sau khi học xong bậc phổ thông, chàng thanh niên được gởi đến học tại Ðại học Prague (CH Czech ngày nay) và Ðại học Paris (Pháp). Tại Paris, nhà nghiên cứu trẻ Albert trở thành giáo sư và giữ ví trị này từ năm 1351 đến 1362.

Năm 1353, ngài trở thành hiệu trưởng Ðại học Paris. Sau năm 1362, giáo sư Albert được công tước xứ Áo Rudolf IV gởi làm đặc sứ đến yết kiến Ðức Giáo Hoàng Urban V ở Avignon (Pháp) để trao đổi việc sáng lập Ðại học Vienna. Nỗ lực này đã thành công và giáo sư Albert trở thành hiệu trưởng đầu tiên của trường đại học mới thành lập vào năm 1365. Tuy nhiên, ngài chỉ giữ cương vị mới trong vòng 1 năm. Ðến năm 1366, ngài được tấn phong Giám mục Halberstadt. Vị trí này đánh dấu sự “hồi hương” của ngài. Ðức cha Albert giữ vai trò này cho đến khi qua đời vào năm 1390.

 

Đại học Vienna dịp kỷ niệm 650 năm thành lập

 

Học vấn uyên thâm

Vị giám mục người Ðức luôn học hỏi những người đi trước, và chọn lọc những tên tuổi sáng chói nhất thời bấy giờ để thiết lập nền tảng nghiên cứu, và một sự trùng hợp thú vị là hầu hết thầy của ngài đều là linh mục, tu sĩ hoặc có nhiều thời gian phục vụ tại giáo triều. Trước hết, Albert là học trò của Jean Buridan, triết gia nổi tiếng của Pháp, và chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi người thầy trong ngành vật lý và luận lý học. Là nhà triết học tự nhiên, ông góp phần vào nỗ lực phổ biến tư tưởng triết học của người Pháp khắp chốn, đặc biệt ở Ý và khu vực Trung Âu. Tuy nhiên, trò giỏi hơn thầy. Sự lưu hành rộng rãi các tác phẩm và báo cáo nghiên cứu của Ðức cha Albert đã giúp ngài trở nên nổi tiếng hơn ở một số lĩnh vực so với những nhân vật đương thời, bao gồm thầy Buridan và linh mục người Pháp Nicole Oresme. Trong đó, người thứ hai là nhà toán học đã đưa ra giả thuyết về hình học tọa độ trước cả René Descartes.

Các nghiên cứu trong lĩnh vực luận lý học của Ðức cha Albert còn cho thấy ngài cũng chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của cha William xứ Ockham, thuộc dòng Phanxicô. Các bài giảng của vị giám mục về luận lý học và siêu hình học đặc biệt có tác động sâu rộng trong giới học thuật vào thời đó. Ngài đã giới thiệu lý thuyết về động lực với tổng cộng 3 giai đoạn, hoàn thiện hơn so với giả thuyết của học giả Avicenna. Lý thuyết của Ðức cha Albert trở thành tiền thân của định luật quán tính hiện đại.

Giáo phận Halberstadt

 

Bên cạnh đó, Ðức Tổng Giám mục Thomas Bradwardine xứ Canterbury là người tạo ra nền tảng học thuật về toán học cho người trò nổi tiếng. Về khía cạnh vật lý học, Ðức cha Albert có nhiều ghi chép về nơi chốn, không gian và thời gian, cũng như lập luận cho rằng không thể nào tồn tại cái gọi là đa thế giới, và phân tích vô cùng tỉ mỉ về các chuyển động của cơ thể (có thể nói bậc thầy Phục Hưng Leonardo da Vinci đã “mắc nợ” ngài về khía cạnh này).

Vị giám mục người Ðức cũng đặc biệt quan tâm nghiên cứu về chủ đề lực hấp dẫn, và có lẽ là học giả đầu tiên tách biệt giữa trọng tâm và trung tâm của hình học, từ đó phân tích sự khác biệt giữa hai dạng này với vận tốc rơi của vật thể. Ngài cũng nằm trong số những người đầu tiên trên thế giới hiểu được cơ chế mà vật lý thời nay gọi là khí tĩnh học, vì Ðức cha sAlbert một mực cho rằng một quả khí cầu nhẹ vẫn tiếp tục bay lên và duy trì trạng thái lơ lửng trong không khí nếu thành phần lửa vẫn được bao bọc bên trong (cơ chế của khinh khí cầu). Và cuối cùng, nỗ lực tìm kiếm các công thức toán học của vị giám mục nhằm giải thích các quy luật của tự nhiên đã mở đường cho ứng dụng sau này trong lĩnh vực vật lý học hiện đại.

 

HỒNG HOANG

 

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm