Công giáo Việt Nam và văn hóa dân tộc

Một điểm tương đồng đáng chú ý khác là ảnh hưởng của bố cục “tọa sơn hướng thủy”, vốn được xem là bố cục tốt trong phong thủy. Theo quan niệm này, phía trước cần có một hồ nước hoặc dòng sông đóng vai trò Minh Đường, là nơi tụ khí sinh tài. Đồng thời, phía sau phải có một ngọn đồi hoặc núi làm điểm tựa vững chắc, bảo trợ cho công trình. Ngoài nhà thờ Phát Diệm thì sự xuất hiện của hồ nước phía trước còn có thể được tìm thấy ở nhiều nhà thờ khác, bất kể làm theo phong cách kiến trúc nào. Tiêu biểu trong giáo phận Phát Diệm có thể kể đến các nhà thờ Hiếu Thuận (1889), Phúc Nhạc (1890), Mông Hưu (1901), Bình Sa (1897), Dưỡng Điềm (1899)... Trong giáo phận Bùi Chu có các nhà thờ Trung Linh (1892), Nam Hưng (1901), Phạm Pháo (1905), Hai Giáp (1906), Xối Thượng (1909)... Còn trong giáo phận Thái Bình, có thể kể đến các nhà thờ Duyên Lãng (1891), Xá Thị (1903), Cao Mộc (1912), Vân Am (1919)...

nhathophamphao.jpg (151 KB)
 Nhà thờ Phạm Pháo - GP Bùi Chu

Bên cạnh sự tương đồng về bố cục, phần lớn các nhà thờ xây dựng trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX - nửa đầu thế kỷ XX đều mang một số đặc điểm bản địa, thích nghi với khí hậu nhiệt đới. Phổ biến nhất trong số đó là việc sử dụng hành lang và mái hiên, hai đối tượng đóng vai trò như không gian chuyển tiếp, giảm bớt tác động của ánh nắng trực tiếp và điều hòa không khí. Đây vốn là một đặc điểm quen thuộc trong kiến trúc đình chùa, được tiếp thu vào nhà thờ Công giáo Việt Nam theo nhiều phong cách khác nhau, vẫn duy trì nhiều nhà thờ mới xây dựng gần đây.

Tuy nhiên, sự tương đồng đặc biệt nhất giữa đình chùa và nhà thờ Công giáo ở Việt Nam chính là việc sử dụng kết cấu gỗ và họa tiết trang trí truyền thống. Những nhà thờ sử dụng kết cấu gỗ trong giai đoạn này có hai xu hướng chính:

Một là nhà thờ theo phong cách Việt Nam, với mặt tiền dạng cổng tam quan như ở đình, chùa. Với kiểu nhà thờ này, không gian từ ngoài vào trong là một thể thống nhất, mang đậm chất Á Đông. Kiểu kiến trúc này phổ biến ở giáo phận Phát Diệm với những nhà thờ tiêu biểu như Chánh tòa Phát Diệm (1865-1891), Hiếu Thuận (1889), Hảo Nho (1893), Bình Sa (1897), Khiết Kỷ…

Hai là nhà thờ theo phong cách châu Âu nhưng sử dụng kết cấu gỗ kiểu Việt Nam, tạo nên một sự pha trộn thú vị giữa Đông và Tây. Những nhà thờ dạng này thường có mặt tiền Tây phương kết hợp với phần thân mang dấu ấn Việt Nam, với hai hành lang chạy dọc công trình, hệ khung gỗ chịu lực và các hoa văn trang trí. Ở miền Bắc, kết cấu gỗ của nhà thờ dạng này thường giống với đình chùa, kết hợp với các vật liệu bản địa như vữa trộn rơm, đá, gạch, ngói… Ở miền Trung, kết cấu gỗ chịu ảnh hưởng từ nhà rường Huế, với kiểu kèo cổ ngỗng và tường dùng chất kết dính đặc biệt gồm vôi, nhớt cây bời lời, dây tơ hồng… Tuy sự kết hợp giữa phong cách châu Âu và kết cấu truyền thống Việt Nam ở đây còn rời rạc và thiếu nhuần nhuyễn, nhưng lạ thay, lại tạo nên một tổng thể hài hòa và ấn tượng. Có rất nhiều nhà thờ có thể kể đến như ở giáo phận Phát Diệm các nhà thờ Phúc Nhạc (1890), Dưỡng Điềm (1899), Mông Hưu (1901), Xuân Hồi (1909)... giáo phận Bùi Chu là các nhà thờ Quần Liêu (1884), Quất Lâm (1897), Nam Hưng (1901), Nam Lạng (1909), Hưng Nhượng (1910)... Ở giáo phận Thái Bình là Lác Làng (1891), Cao Xá (1892), Đông Hồ (1896), Hưng Yên (1898), Thị (1903)... Những giáo phận khác cũng bắt gặp rải rác như các nhà thờ Vạn Hoạch (GP Hải Phòng, 1890), Vạn Phúc (TGP Hà Nội, 1908), Ngọc Hồ (TGP Huế, 1917-1921)...

Ngoài các yếu tố kể trên thì những họa tiết trang trí truyền thống được sử dụng trong những thánh đường Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX - nửa đầu thế kỷ XX vừa kéo không gian Công giáo lại gần hơn với đình chùa, vừa tạo nên dấu ấn riêng cho các nhà thờ do người Việt xây dựng, khác biệt với các công trình do người Pháp thiết kế. Các hoa văn quen thuộc như hoa sen, hoa cúc, tre trúc, lá lật, rồng, mây… xuất hiện khá phổ biến. Thậm chí, một số đề tài gắn liền với Phật giáo và Nho giáo như bình cam lộ, bút lông, thanh kiếm… cũng được sử dụng. Đôi khi còn một số hình tượng trong Kinh Thánh được Việt hóa như hoa Mân Côi, lúa mì, chùm nho… Đặc biệt nhất là những gian cung thánh được sơn son thếp vàng như truyền thống Việt Nam. Trong khi các nhà thờ Tây phương sử dụng ánh sáng từ những ô cửa sổ kính màu để tạo điểm nhấn thiêng liêng, thì nhà thờ Việt Nam giai đoạn này sử dụng sự lấp lánh vàng son của cung thánh để tập trung ánh nhìn của tín hữu. Trong không gian vốn mang tông trầm của gỗ, sự rực rỡ của cung thánh có thể thu hút ánh nhìn một cách rất hiệu quả.

Mối liên hệ giữa nhà thờ và đình chùa trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX xuất phát từ hoàn cảnh thực tế là đội ngũ thợ xây địa phương vốn quen thuộc với kỹ thuật truyền thống hơn lối xây dựng Tây phương. Nhưng đồng thời, trong bối cảnh cộng đồng Công giáo Việt Nam khi ấy vẫn còn bị ánh nhìn dặt trong cộng đồng, lại mới trải qua một thời kỳ bách hại, thì việc chọn phong cách kiến trúc mang dáng dấp đình chùa cho thấy mong ước được xích lại với văn hóa truyền thống, hòa hợp với dân tộc. Mong muốn kế thừa văn hóa truyền thống tiếp tục được phát huy sau năm 1954 với Kiến trúc hiện đại miền Nam Việt Nam mà chúng tôi đã đề cập ở những phần trước; song song đó là phát triển kiểu kiến trúc tiếp nối truyền thống, nhưng thích nghi với kỹ thuật và vật liệu xây dựng mới, chúng ta có thể tạm gọi là Kiến trúc kế thừa. Một số công trình tiêu biểu theo hướng kế thừa là nhà thờ Du Sinh (Đà Lạt, 1956-1957), nhà thờ Phú Xuân (TPHCM), Đền Công Chính (TPHCM, 1992), nhà thờ Hòa Bình (Đồng Nai)...

 (còn nữa)

KỲ PHONG

Từ khoá:
Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Góp nhặt những câu chuyện lịch sử
Góp nhặt những câu chuyện lịch sử
Phần phụ lục (trang 110-135) trong quyển tự điển Dictionarium Latino - Anamiticum của Đức cha Jean Louis Taberd, xuất bản năm 1838 tại Ấn Độ có in bài vãn về cuộc tử đạo của bà Inê/Anê Huỳnh Thị Thanh, em gái cha Laurent, quê Chợ Mới, Nha Trang.
Vị trí Dinh Trấn Biên Phú Yên, nơi Anrê Phú Yên được rửa tội (p2)
Vị trí Dinh Trấn Biên Phú Yên, nơi Anrê Phú Yên được rửa tội (p2)
“Khúc sông bên lở, bên bồi” là quy luật của thiên nhiên. Dòng chảy sông Cái bị thiên nhiên bồi lấp tại bãi cát thôn Hội Tín, giáp ranh thôn Hội Phú, đoạn liền kề nghĩa trang giáo xứ Mằng Lăng ngày nay.
Bình an nơi tâm hồn
Bình an nơi tâm hồn
Có những lời thầm thì hóa thành bình an. Việc nhìn nhận những thiếu sót chính là khoảnh khắc lòng can đảm hiện diện rõ nét để bắt đầu hành trình hoàn thiện bản thân.
Góp nhặt những câu chuyện lịch sử
Góp nhặt những câu chuyện lịch sử
Phần phụ lục (trang 110-135) trong quyển tự điển Dictionarium Latino - Anamiticum của Đức cha Jean Louis Taberd, xuất bản năm 1838 tại Ấn Độ có in bài vãn về cuộc tử đạo của bà Inê/Anê Huỳnh Thị Thanh, em gái cha Laurent, quê Chợ Mới, Nha Trang.
Vị trí Dinh Trấn Biên Phú Yên, nơi Anrê Phú Yên được rửa tội (p2)
Vị trí Dinh Trấn Biên Phú Yên, nơi Anrê Phú Yên được rửa tội (p2)
“Khúc sông bên lở, bên bồi” là quy luật của thiên nhiên. Dòng chảy sông Cái bị thiên nhiên bồi lấp tại bãi cát thôn Hội Tín, giáp ranh thôn Hội Phú, đoạn liền kề nghĩa trang giáo xứ Mằng Lăng ngày nay.
Bình an nơi tâm hồn
Bình an nơi tâm hồn
Có những lời thầm thì hóa thành bình an. Việc nhìn nhận những thiếu sót chính là khoảnh khắc lòng can đảm hiện diện rõ nét để bắt đầu hành trình hoàn thiện bản thân.
Tiếng xao động trên tàu dừa
Tiếng xao động trên tàu dừa
Có những chuyến đi không nhằm tìm kiếm điều gì cụ thể, chỉ đơn giản là để lòng mình được lắng lại. Tôi đến miền Tây trong những ngày cần một khoảng yên đủ rộng để nghe rõ hơn tiếng nói bên trong mình.
Triết lý của giấc mơ
Triết lý của giấc mơ
Cơn mưa chiều làm xua tan cái nóng hầm hập trong căn phòng trọ chật cuối con đường nhỏ ngoại ô thành phố. Tôi với tay lật lại cuốn Nhà giả kim đã sờn gáy.
Nơi Đền thánh Đức Mẹ Bãi Dâu
Nơi Đền thánh Đức Mẹ Bãi Dâu
Có vị trí tựa núi, hướng biển, Đền thánh Đức Mẹ Bãi Dâu ngoài công trình nhà thờ còn có nhiều tượng, phù điêu đẹp.
Vị trí Dinh Trấn Biên Phú Yên, nơi Anrê Phú Yên được rửa tội
Vị trí Dinh Trấn Biên Phú Yên, nơi Anrê Phú Yên được rửa tội
Nhắc đến Chân phước Anrê Phú Yên, không thể không kể về Dinh Trấn Biên Phú Yên, là một trung tâm hành chánh, quân sự vang bóng một thời của Đàng Trong, cũng là nơi có nhà nguyện đầu tiên trong công cuộc truyền giáo ở Phú Yên.
Mùa trở về cuối cùng
Mùa trở về cuối cùng
Cuốn sách gần đây nhất tôi đọc mang tựa đề “Khi đàn sếu bay về phương Nam” của tác giả người Thụy Điển Lisa Ridzén. Câu chuyện viết về ông lão Bo sống một mình cùng chú chó tên Sixten.
Một biểu tượng của đức tin
Một biểu tượng của đức tin
Nhà thờ Mồ tuy chỉ là một ngôi nguyện đường khiêm tốn nhưng lại là nơi lưu giữ lịch sử đức tin kiên cường của cộng đoàn tín hữu Bà Rịa.