Thứ Sáu, 06 Tháng Mười, 2017 16:56

Áo choàng - Khăn phủ vai

Áo choàng (pluviale - cappa pluvialis)

Nguyên thủy, có lẽ áo choàng là loại y phục được dùng ở Rôma ngày xưa, trông giống như một chiếc áo mưa dân chúng vẫn sử dụng trong đời thường. Từ ban đầu, khi được đem dùng vào mục đích tôn giáo (có lẽ khoảng thế kỷ V),1 đây là loại áo khoác dài phủ hết thân người và bên ngoài áo lễ, dài tới sàn nhà, được các giáo sĩ mặc khi đi rước để bảo vệ bản thân khỏi bị mắc mưa hay giữ ấm cơ thể trong thời tiết lạnh giá. Thói quen này giải thích tại sao tên Latinh của áo choàng này là “pluviale”, nghĩa là “áo mưa” hay “đối phó với mưa”.2

Gọi là áo choàng hay áo cappa vì khi mặc, thừa tác viên phải mặc trước áo alba và đeo dây stola (hay mặc áo chùng thâm (cassock, soutane), áo các phép và đeo dây stola) rồi mới khoác áo này bên ngoài vai. Áo choàng có dạng nửa hình tròn, không có tay, được thắt lại ở trước ngực người mặc bằng một cái nút / khuy cài / một cái móc bằng kim loại hay cột hai sợi dây vải lại với nhau.3

Không cần phải làm phép áo choàng vì đối tượng này không nằm trong nghi thức phong chức thánh.

Thông thường, áo choàng là phẩm phục của vị chủ sự, nhưng đôi khi cả người tham dự cũng mặc, chẳng hạn như: i] Các linh mục hỗ trợ Đức Giám mục chủ tọa giờ kinh trọng thể; ii] Các giáo sĩ tham dự giờ kinh phụng vụ trọng thể; iii] Ca viên thuộc ca đoàn.4

Ngày nay, áo choàng được các giáo sĩ mặc trong những nghi lễ long trọng khác nhau ngoài thánh lễ hoặc vào những dịp khác nhau:

1) Khi đặt Mình Thánh chầu Thánh Thể và ban phép lành Thánh Thể với Mặt Nhật. Thừa tác viên chức thánh nên sử dụng áo choàng cả trong hình thức tôn thờ Thánh Thể đơn giản hay trọng thể ngay khi đặt Mình Thánh. Nhưng nếu giờ chầu kéo dài lâu, chẳng hạn cả một ngày, thì khi đặt Mình Thánh, chỉ cần mặc áo alba + dây stola (hoặc áo dòng / chùng thâm + áo các phép + dây stola) là đủ, không cần sử dụng áo choàng. Tuy nhiên, buộc phải mặc áo choàng [trắng] khi ban phép lành trọng thể bằng Mặt Nhật. Còn ban phép lành với Bình Thánh (ciborium) thì tùy chọn mặc hay không mặc áo choàng cũng được, nhưng không mặc áo choàng dường như hay hơn (Eucharistiae Sacramentum, số 92-94).5   

2) Khi tham dự cuộc rước và cử hành Các Giờ kinh phụng vụ trọng thể (QCSL 341).6 Dầu áo choàng màu trắng được sử dụng khi ban phép lành Thánh Thể (Eucharistiae Sacramentum, số 92), nhưng nếu như Giờ kinh Sáng và Giờ kinh Chiều diễn ra ngay sau việc đặt Mình Thánh, thì có thể là một sự tùy chọn để đặt Mình Thánh với áo choàng không phải màu trắng; và nếu giờ kinh trọng thể được cử hành ngay khi kết thúc giờ chầu Thánh Thể dài, chủ tế có thể mang dây các phép và áo choàng cùng màu phụng vụ riêng của buổi lễ (đỏ, tím, xanh, hồng), và sau đó dùng khăn vai trắng để cầm Mình Thánh ban phép lành. Nếu không, ngài có thể mặc áo trắng cho Giờ Kinh phụng vụ.7

3) Khi tiến hành rảy nước thánh. Vào thánh lễ Chúa nhật, nhất là các Chúa nhật mùa Phục Sinh, chủ tế có thể sử dụng áo choàng khi rảy nước thánh trong phần nghi thức đầu lễ (QCSL 341).

4) Khi xức tro hay làm phép mộ (nghi lễ an táng).

5) Khi [linh mục chánh xứ] chào đón giám mục giáo phận đến kinh lý mục vụ. Cha quản xứ “đứng đón giám mục ở cửa nhà thờ, trao ảnh chuộc tội để ngài hôn, rồi đưa que rảy nước thánh cho giám mục rảy trên mình ngài và trên những người có mặt. Rồi sau khi thinh lặng cầu nguyện một lát ở trước Mình Thánh, giám mục tiến lên cung thánh. Cha quản xứ đứng trước bàn thờ mời gọi tín hữu cầu nguyện cho giám mục, và sau khi thinh lặng cầu nguyện một lúc, cha đọc lời nguyện ‘Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu’ hoặc ‘Lạy Chúa, Chúa vừa làm chủ vận mạng con người’ như in trong Sách lễ (phần “Thánh lễ và các Lời nguyện cho các nhu cầu khác nhau” - 3. Cầu cho giám mục, mẫu A). Rồi giám mục chào dân chúng, trình bày các việc ngài sẽ làm trong thời gian thăm viếng, và cuối cùng đọc lời nguyện về tước hiệu nhà thờ hoặc về thánh bổn mạng địa phương, rồi như thường lệ, ngài ban phép lành cho dân chúng và cha quản xứ sẽ giải tán họ về” (LNGM, số 1180).8

6) Đối với các giám mục, áo choàng là biểu tượng của quyền tài phán. Nếu Đức Giám mục không chủ tế thánh lễ mà để cho người khác cử hành, chính ngài nên mặc áo trắng dài, đeo thánh giá ngực, dây các phép và khoác áo choàng, chủ tọa phần phụng vụ Lời Chúa và ban phép lành cuối lễ (QCSL 92). Ngài cũng có thể dùng áo choàng khi cử hành các bí tích bên ngoài thánh lễ như Thánh Tẩy, Thêm Sức, Hôn Nhân và Giao Hòa theo thể thức trọng thể, Truyền Chức (nếu không đồng tế) và Xức Dầu bệnh nhân; khi hỗ trợ tại cộng đồng hay trong các cuộc tụ họp theo chức phận mình; hoặc một số nghi thức khác nữa như lễ đặt viên đá đầu tiên hoặc khởi công xây cất thánh đường (LNGM, số 847a); khi phải cử hành một việc làm phép nào với hình thức tập thể và có họp đông giáo dân, thì giám mục theo nghi lễ đã ấn định cho mỗi loại làm phép ghi trong Sách Các Phép hoặc trong sách phụng vụ riêng (LNGM, số 1127).

Khăn phủ vai (humerus)

Có nhiều người dịch thuật hoặc sử dụng lẫn lộn giữa khăn phủ vai và khăn vai. Khăn phủ vai khác với khăn vai ở chỗ: Khăn vai (am) chỉ là tấm vải trắng hình chữ nhật linh mục quàng qua cổ khi mặc áo alba trong trường hợp áo alba không che hết được phần áo bên dưới áo này, nếu áo alba che hết thì thôi không cần sử dụng khăn vai nữa. Bởi vậy, với những loại áo alba ngày nay, khăn vai có khuynh hướng mất dần, hiếm khi được sử dụng nữa. Trong khi đó, khăn phủ vai được dịch từ tiếng Latinh “humerus”, có nghĩa là “cái vai” và khi dùng trong các nghi lễ phụng vụ khăn này được phủ lên vai và một phần phía trên lưng của thừa tác viên, phủ bên ngoài áo choàng hay áo alba chứ không phải bên dưới như khăn vai.9

Thật ra, nguồn gốc của khăn phủ vai phát xuất từ thói quen của các đầy tớ thời đế quốc Rôma với cái tên là “sudarium”. Vì họ bị coi là thuộc đẳng thấp kém, không xứng đáng để chạm trực tiếp vào những đối tượng sẽ được trao cho những người quyền quý cao sang, nên họ phải luôn mang theo mình “sudarium” rồi dùng nó phủ lên đối tượng sẽ phải trao cho bề trên của họ.10

Trong lịch sử phụng vụ, khăn phủ vai thường được làm bằng lụa nhưng có thể bằng một loại vải khác, viền chung quanh thật đẹp và có thêu hình thánh giá với tên “Giêsu” ở giữa khăn. Từ thế kỷ VIII, theo Nghi lễ Rôma cổ xưa nhất (Roma Ordo), khăn vai đã được sử dụng trong tất cả những thánh lễ hát trọng thể trừ lễ an táng. Chẳng hạn, thầy phụ phó tế sẽ mặc khăn phủ vai khi giữ đĩa thánh giữa phần dâng lễ và kinh Lạy Cha; thầy giúp lễ dùng khăn phủ vai giữ mũ [mitra] của Đức Giám mục trong thánh lễ đại triều. Bởi đó khăn phủ vai thường mang đủ các màu sắc phụng vụ, trừ ra màu đen.11 Trong quá khứ, màu đỏ được sử dụng trong ngày thứ Sáu Tuần Thánh. Còn thông thường hiện nay, khăn phủ vai có màu trắng trong mọi mùa phụng vụ (Vọng, Giáng Sinh, Chay, Phục Sinh và Thường Niên) nhưng vẫn có thể sử dụng khăn phủ vai màu đỏ /tím như xưa khi đem Mình Thánh từ phòng nguyện lưu giữ đến bàn thờ vào ngày thứ Sáu Tuần Thánh.12

Hiện nay, khăn phủ vai là một tấm khăn màu trắng khoác trên vai thừa tác viên cầm Mình Thánh Chúa. Thừa tác viên chức thánh phải mang khăn phủ vai bên ngoài áo choàng, dùng phần cuối của khăn phủ vai mà phủ đôi tay mình cũng như không để bàn tay chạm trực tiếp vào Mặt Nhật khi nâng Mặt Nhật lên ban phép lành Thánh Thể. Đây là một dấu hiệu để diễn tả lòng cung kính đối với đối tượng thánh và để biểu thị chính Chúa Giêsu hiện diện nơi Thánh Thể ban phép lành cho dân chúng chứ không phải thừa tác viên. Khăn phủ vai có thể khoác bên ngoài áo lễ hay áo alba khi:

1) Đi rước kiệu Mình Thánh (cách trọng thể trên các đường phố vào ngày lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô; cách trọng thể chung quanh nhà thờ vào ngày thứ Năm Tuần Thánh từ bàn thờ sang nhà tạm trong phòng nguyện nhỏ gần nhà thờ hoặc đến nhà tạm đã được chuẩn bị ngay trong nhà thờ đó hay một nơi khác ngoài nhà thờ (một phòng, một hội trường nào đó của giáo xứ); không trọng thể từ nơi lưu giữa Mình Thánh ra bàn thờ trong thứ Sáu Tuần Thánh; hoặc từ nhà tạm này đến nhà tạm khác);13

2) Đi rước Bình Thánh, hộp đựng Mình Thánh (mang cho bệnh nhân rước lễ như của ăn đàng).14

Thừa tác viên sẽ dùng khăn phủ vai này để bao trùm hoàn toàn đối tượng (bình thánh, hộp đựng Mình Thánh) hay một phần (Mặt Nhật) để bày tỏ lòng tôn kính đối với Mình Thánh. Thừa tác viên mang các thánh tích trong đoàn rước trọng thể hay hỗ trợ mang huy hiệu Giám mục cũng có thể sử dụng khăn phủ vai. Thực hành này phát xuất từ tập tục cung kính các đối tượng thánh đến độ không thể chạm trực tiếp vào những đối tượng này.15

Lm. Giuse Phạm Đình Ái, dòng Thánh Thể, SSS

____________________________________________________

1 Xc. HĐGMVN, “Áo choàng” trong Từ điển Công giáo (Nxb Tôn Giáo, 2016), 21.

2 Xc. Jovian P. Lang, OFM, “Cope” trong Dictionary of the Liturgy (New York: Catholic Book Publishing Corp., 1989), 141.

3 Xc. HĐGMVN, “Áo choàng” trong Từ điển Công giáo, 21.

4 Xc. Dom Robert Le Gall, “Áo choàng” trong Tự điển Phụng vụ (C.L.D, 1982), 12.

5 Eucharistiae Sacramentum là văn kiện phụng vụ về việc “Hiệp lễ và Tôn thờ Thánh Thể ngoài Thánh lễ” được ban hành bởi Thánh Bộ Phụng tự Thánh (ngày 21-06-1973); Xc. Peter J. Elliot, Liturgical Question Box (San Francisco: Ignatius Press, 1998), 53.

6 QCSL: viết tắt của văn kiện Quy chế Tổng quát Sách lễ Roma 2002.

7 Xc. Edward McNamara, “Copes, Humeral Veils and Blessings” trong The ZENIT Daily Dispatch (ROME, 10 December 2013); “Vestments for Exposition and Benediction” ((ROME, 25 APR. 2017).

8 LNGM: chữ viết tắt của Sách Lễ nghi Giám mục “Cremoniale Episcoporum” (1984).

9 Xc. Joseph Braun, “Humeral Veil”, trong The Catholic Encyclopedia, vol. 7 (New York: Robert Appleton Company, 1910) từ http://www.newadvent.org/cathen/07542b.htm (20 Sept. 2017).

10 Xc. Dom Robert Le Gall, “Khăn vai” trong Tự điển Phụng vụ (C.L.D, 1982), 146.

11  Xc. Joseph Braun, “Humeral Veil”.

12 Xc. Edward McNamara, “Copes, Humeral Veils and Blessings”; “Vestments for Exposition and Benediction”.

13 Xc. Giuse Phạm Đình Ái, Đức Kitô, Hôm qua cũng như Hôm nay, tập 2 (NXB. Hồng Đức, 2016), 90 và 115.

14 Eucharistiae Sacramentum, số 92).

15 Xc. Jovian P. Lang, OFM, “Veil, Humeral”, 633.

 

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm