Thứ Sáu, 03 Tháng Bảy, 2015 14:18

Bước chân lấm bùn nơi rừng mắm

Đất U Minh được chia thành hai ngả: U Minh Thượng thuộc về Kiên Giang, còn U Minh Hạ là “lãnh thổ” của Cà Mau. U Minh giờ đang trên đà phát triển, đời sống người dân dần ổn định. Nhưng nếu ngược dòng thời gian về 40 năm trước, nơi đây khó khăn tứ bề và từng là mật khu trong thời kháng chiến cách trở giao thông... Vậy mà linh mục chánh xứ Đông Hòa Isiđôrô Bùi Văn Tăng đã đến và sống giữa đoàn chiên của mình từ ngày đó cho tới hôm nay.

Linh mục Isiđôrô Bùi Văn Tăng

40 năm dấn thân

Trong dòng hồi tưởng của những người lớn tuổi, U Minh Thượng sau năm 1975 là vùng đất tan hoang vì chiến tranh, cảnh vật bốn bề điêu tàn, xơ xác. Mọi điều kiện sống chỉ là con số không: không đường sá, không cầu cống, không trường học, không nước sinh hoạt…, và biệt lập với bên ngoài, nước bao quanh bốn bề. Để ra Rạch Sỏi (nơi gần nhất với phố thị) mỗi ngày chỉ có một chuyến đò vào buổi sáng sớm, nếu lỡ bước, phải đợi hôm sau. 

Đông Hòa khi đó là một họ lẻ thuộc giáo xứ Rạch Giá (GP Long Xuyên) với chừng 300 người. Ngày 27.7.1975, sau hơn một tháng được thụ phong linh mục, cha Isiđôrô Bùi Văn Tăng được cử về coi sóc mục vụ tại giáo họ Đông Hòa cùng một vài họ đạo khác. Đến ngày 13.2.1977, trong một lần Đức cha G.B Bùi Tuần đến dâng thánh lễ và ban Bí tích Thêm sức, ngài đã tách vùng U Minh Thượng khỏi Rạch Giá và nâng Đông Hòa lên thành giáo xứ, đặt cha Tăng làm cha sở tiên khởi. 40 năm linh mục là cũng từng ấy năm cha đồng hành, cùng ăn ở và sẻ chia những khó khăn với người dân nơi vùng đất nghèo U Minh. Gắn bó lâu năm và biết rõ sự tình nơi đây, vị linh mục đầy nhiệt huyết này đã không ngừng góp sức mình để vực dậy vùng đất bị “kiệt quệ” bởi bom đạn cày nát.  

Nhà Đại Đoàn kết

Khi nhận sở Đông Hòa, cha còn kiêm nhiệm việc mục vụ tại các giáo họ Rọc Lá, Minh Châu, Đông Hưng (Thứ Mười), trên một vùng rộng lớn ở ba huyện An Minh, An Viên và Vĩnh Thuận. Ngày đó, đi từ điểm này qua điểm kia có khi mất cả nửa ngày trời, với phương tiện duy nhất là đò. Nhiều nơi lại chưa được phép dâng lễ. Nhưng khó khăn không thể ngăn được bước chân của cha, ngài vẫn thường xuyên đến với đoàn chiên để hỏi thăm, an ủi và cùng chung tay kiến tạo một ngày mai tốt đẹp hơn.

Để Đông Hòa có được nơi thờ phượng Chúa cho xứng đáng, năm 1998, giáo xứ quyết định khởi công xây mới ngôi thánh đường vốn đã xiêu vẹo giữa biết bao khó khăn chồng chất mà bây giờ ngồi lại hàn huyên, nhiều người cùng cộng tác với cha đều nhớ như in những cảnh tượng ngao ngán thuở xưa. “Đường đi đá nhiều hơn đất, đá dăm, đá tảng phủ kín mặt; xe đang chạy nhiều khi phải xuống dắt bộ; vật tư phải mang lên ghe mới chuyên chở về được... Nhưng chính sự hy sinh cùng tinh thần quyết tâm của cha giúp chúng tôi thêm động lực. Ngôi nhà thờ sừng sững hoàn thành sau hơn hai năm đúng là một kỳ tích”, anh Nguyễn Cao Cường, một giáo dân kể lại. Trước khi dựng nhà thờ, cha còn cho xây ngôi trường học trong khuôn viên giáo xứ để mở những lớp mẫu giáo tình thương và ngôi nhà cho các nữ tu dòng Mẹ Nhân Ái đến giúp xứ… Cha cũng là người đã xây mới ngôi nhà thờ họ đạo Thứ Mười vào năm 1992, đặt nền móng ngôi xây thờ Vĩnh Thuận… Không chỉ là vị mục tử lo về đời sống đạo, cha còn giúp phát triển đời sống giáo dân và người trong vùng qua những việc làm thiết thực. 

U Minh giờ đã khác

Một trong những mối bận tâm của cha Tăng sau ngày về nhận sở là tình trạng thiếu nước sạch trong vùng. Hằng ngày, người dân phải dùng nước sông trong sinh hoạt và cả ăn uống. Đó cũng là nguyên nhân sinh ra nhiều loại bệnh. Cha đã cho đóng hơn 100 cái giếng, với độ sâu hơn 100 mét để tìm mạch nước không nhiễm phèn... Người trong vùng không còn phải nơm nớp lo sợ mỗi khi mùa nắng kéo về. Ngày ngày thấy trẻ nhỏ đến trường băng qua những chiếc cầu khỉ tạm bợ hay phải chờ đò mất nhiều thời gian, cha góp phần xây mới những chiếc cầu bê tông vững chải nối liền hai bờ. Đến nay đã có 7 cây cầu ở nơi đông người qua lại, mỗi cầu trị giá hàng trăm triệu đồng. Song song với việc xây cầu, cha còn làm những con đường bê tông chắc chắn nối từ khu dân cư ra tận ngoài lộ. “Có cầu đường, các em đến trường được dễ dàng, sinh hoạt hằng ngày của người dân miền sông nước thuận tiện hơn hẳn”, ông  Đinh Ngọc Nghĩa, một người dân trong vùng cho biết.

Đường và cầu do cha Tăng xây dựng

Quay về thời điểm những năm 90, khi đó dù mang tiếng là miền Tây nhiều đất đai nhưng trong vùng cái nghèo vẫn còn “bủa vây”. Phần lớn đất bị hoang hóa, nhiễm phèn nặng. Cha kể: “Cứ mỗi công đất trồng lúa mỗi vụ cũng chỉ thu được khoảng 10 giạ thóc (mỗi giạ khoảng 20 – 22kg). Vậy nên chẳng bao giờ đủ ăn!”. Suy nghĩ làm thế nào giúp bà con mình đầy đủ hơn từ cây lúa khiến cha nhiều đêm trăn trở. Sau này cha nhận ra để tăng năng suất trước nhất cần phải khử phèn trong đất và phải có vốn để  thực hiện. Sau nhiều bận bàn bạc với các cộng sự, cha quyết định  đứng ra bảo lãnh với ngân hàng cho hơn 60 gia đình được vay vốn. “Có vốn để khơi thông kinh, xổ phèn. Vì kinh không thông, làm ruộng sẽ không trúng”, cha kết luận. Ngay sau đó, hiệu quả liền thấy rõ! Chỉ năm đầu tiên, mỗi công đất từ 10 giạ nay tăng lên thành 15 rồi 20 giạ. Người dân không chỉ đủ ăn mà còn có dư để sắm sửa.

Hơn 20 năm qua, trong khuôn viên nhà xứ có một trường mẫu giáo tình thương cùng năm lớp học, số học sinh có năm lên tới 160 cháu. Các lớp đều dạy miễn phí, phụ huynh chỉ góp một phần vào bữa cơm trưa và dặm chiều của các em. Đó là công sức của cha Tăng trong việc phổ cập hóa giáo dục mầm non tại địa phương. Nhiều ngôi nhà tạm bợ trong vùng đất sâu, giờ đã được cha tiếp tay sửa chữa thành những ngôi nhà Đại Đoàn kết khang trang. “Bản thân không nghĩ có ngày mình được sống trong ngôi nhà đẹp như vậy, có được nhà mới thiệt mừng vui quá chừng”, bà Vương Thị Thạch, một người nghèo được nhận nhà khoe.

Tặng giếng cho người nghèo

Để giáo xứ có thêm nguồn lợi tức, cha xắn tay vào làm nấm, nuôi heo…, kêu gọi giáo dân đi khai hoang ở vùng đất phèn hoang hóa. Không chỉ nói suông bằng miệng, cha cùng vác đất, phát cỏ như người nông dân thực thụ. Thời đó, người ta gọi cha với một cái tên thân mật: “ông cha lội ruộng”. Suốt 15 năm, cha cùng giáo dân của mình đã phát quang gần 40 công đất. Đất sau khi xổ phèn được trồng lúa, cho người thuê nuôi tôm. Nhờ nguồn lợi này, giáo xứ lo được nhiều công việc chung và làm bác ái. Ngoài ra, “ông cha lội ruộng” còn được biết đến như là một con người ôn hòa, đối thoại. Bằng chứng là ngôi nhà thờ giáo họ Antôn Kinh Tây mới được khánh thành cách đây chưa lâu là kết quả của việc trao đổi của cha với chính quyền địa phương, giúp giáo dân di cư từ Campuchia về có được ngôi nhà Chúa khang trang, không còn phải gồng gánh nhau đi dự lễ ở những nơi xa xôi.

U Minh giờ đã khác. Đường đất ngày nào được thay bằng đường nhựa rộng rãi. Không ít nhà cao tầng đã mọc lên. Cuộc sống người nông dân được cải thiện đáng kể. Nhưng vị mục tử một đời dấn thân tại U Minh vẫn chưa ngơi nghỉ, bởi phía trước vẫn còn không ít những hoàn cảnh nghèo khổ, đáng thương. 

ĐÌNH QUÝ

 

 

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm