Ði tìm dấu chân người xưa

 

Như báo CGvDT đã thông tin ở những số báo trước, giáo phận Qui Nhơn vừa tổ chức cuộc tọa đàm về linh mục Gioakim Ðặng Ðức Tuấn, một người con của xứ Bình Ðịnh, là danh nhân văn hóa, nhà tư tưởng… sống trong thế kỷ 19. Ông cũng là người từng có những bản điều trần gởi lên vua Tự Ðức trước cả Nguyễn Trường Tộ.

 

Sau khi tham dự tọa đàm, thay vì quay lại Sài Gòn liền như kế hoạch định sẵn thì máu nghề nghiệp bỗng nổi lên, tôi quyết định đổi chuyến bay, mang theo những thắc mắc còn sót lại trong vốn kiến thức bản thân đã có về nhân vật lỗi lạc này, lần tìm về nơi cha Tuấn từng mở mắt chào đời và địa điểm ngài xuôi tay khép mắt từ giã cõi thế. Chuyến thăm thú len lỏi trong các xóm làng, ngang qua những ruộng đồng, phần nào làm tròn trịa hơn trong tôi bức tranh cuộc đời một con người được xem là tinh hoa Công giáo ái quốc…

Dấu tích hang đá Đức Mẹ ở địa sở Gia Hựu - quê hương linh mục Đặng Đức Tuấn


KHU LĂNG MỘ CHA ĐẶNG ĐỨC TUẤN NGÀY NAY

Từ Qui Nhơn, chúng tôi men theo tỉnh lộ 639, chạy dọc bờ biển Nhơn Hội đẹp như tranh vẽ, qua khỏi vịnh Đề Gi mươi mười lăm phút đi xe là tới vùng Nước Nhỉđịa danh gắn với nhiệm sở cuối cùng mà cha Đặng Đức Tuấn phục vụ khi xưa. Bây giờ, Nước Nhỉ thuộc thôn Chánh Khoan, xã Mỹ Lợi, huyện Phù Mỹ, chếch phía đông tỉnh Bình Định, cách Qui Nhơn lối 70 cây số, dân cư còn thưa vắng, có nhiều trảng cát trắng chỉ mỗi cây bạch đàn sống được.

Khu Lăng mộ tử đạo Nước Nhỉ - nơi cha Tuấn yên nghỉ - vừa mới được cải tạo để tạm làm nhà nguyện họ Nước Nhỉ, vẫn còn thơm mùi sơn mới. So với những bức ảnh tư liệu chụp phần mộ cha Đặng Đức Tuấn mà bản thân từng xem trước đó, thú thực khi đến đây, tôi không thể nhận ra vì mọi thứ đã khác hoàn toàn. Hiện phần mộ nằm ở gian cung thánh của nhà nguyện. Công trình mới không còn giữ lại hai đôi câu đối bằng chữ Hán ca ngợi khí tiết cha Đặng Đức Tuấn như trước đây nữa. Tuy nhiên, trong nhà nguyện vẫn còn giữ nhiều hình ảnh lăng mộ cũ.

Chúng tôi may mắn gặp được ông biện Giuse Trương Minh Thiện đã vào tuổi bát tuần. Ông là người giữ chìa khóa, coi sóc nơi được xem là nhà nguyện của giáo họ Nước Nhỉ (thuộc giáo xứ Phù Mỹ) này. Dù có 48 năm giữ vai trò một “ông biện” trong vùng, nhưng ông Thiện thú nhận không có nhiều thông tin về vị linh mục rất nổi tiếng trong sách vở, chỉ biết cha là người uyên bác và nghe ông bà xưa kể lại vị trí mộ hiện tại không phải là nơi an táng đầu tiên khi cha Tuấn qua đời. Điều này phù hợp với nguồn tư liệu nói về nơi an táng cha Tuấn ghi trong quyển “Đặng Đức Tuấn - Tinh hoa Công giáo ái quốc Việt Nam” của hai tác giả Lam Giang và Võ Ngọc Nhã xuất bản năm 1970: “Lúc đầu ngài được mai táng tại vườn nhà thờ cũ. Trên mộ lập bàn thờ Đức Mẹ và chiều thứ Bảy nào sau khi kinh tối, bổn đạo cũng kéo nhau ra quay quần đài Đức Mẹ và mồ cha Khâm (tên người đương thời gọi thân mật cha Đặng Đức Tuấn, do ngài từng ở trong phái đoàn của cụ Phan Thanh Giản đi đàm phán với Pháp - chú thích của NV) để hát kinh. Kinh Đức Mẹ gọi là Chầu Lầu. Sau này cải táng thi hài cha và dời về vị trí hiện giờ. Cha Khâm lúc sinh thời có lòng sùng kính Đức Mẹ, gây được ảnh hưởng sâu rộng trong bổn đạo địa phương. Thường lệ hát Chầu Lầu còn giữ mãi đến thời di cư năm 1966. Khi đài Đức Mẹ sập đổ, dời phần mộ cha Khâm về Lăng Tử Đạo chu vi 50 thước tây. Gần phía bàn thờ tạm, một bên là mồ cha Khâm, và bên kia là mồ cha già Thoàn. Chính giữa là mồ các đấng tử đạo có chừng 100 quách thu góp gần hết thi hài bổn đạo và cố Ái bị đốt trong nhà thờ, ném xác xuống giếng. Khi dời mồ, vì quan tài bằng gỗ mít lõi còn nguyên vẹn, bổn đạo không mở ra nên không rõ thi hài cha thể nào”.

Lăng mộ Lm Đặng Đức Tuấn cũ

 

Dắt chúng tôi đi một vòng bên ngoài khu lăng mộ mà nay đã là ngôi nhà nguyện tạm, ông biện Thiện cắt nghĩa về tên gọi Nước Nhỉ: do trên miền đất này dù phần lớn là cát nhưng lại có những mạch nước nhỉ ra thường xuyên. Ông nói giáo xứ Nước Nhỉ là nơi cha Tuấn được bổ nhiệm coi xứ vào năm 1865, khi đó có rất ít giáo dân. Tại đây, ngoài việc chăm sóc mục vụ cho dân, cha dành nhiều thời gian viết các tác phẩm thi ca. Cha mất tại nhà thờ năm 1874, và tới 1905, nhà thờ Nước Nhỉ được dời về vị trí mới cao hơn, cách điểm ban đầu độ hai cây số. Mộ cha Tuấn cũng được cải táng đến vị trí gần nhà thờ, chôn ở nơi gọi là khu lăng tử đạo, cùng một vài linh mục khác và các vị tử đạo trong giai đoạn Văn Thân, yên vị đến hôm nay. Sau nhiều biến động, bà con gốc Nước Nhỉ ly tán nhiều trong chiến tranh, ngôi nhà thờ dựng năm 1905 cũng không còn. Mãi đến sau này, giáo dân mới bắt đầu về lại quê cũ sinh sống, đến nay có khoảng 300 nhân danh. Vì không còn nhà thờ, giáo dân chỉ xúm xít đọc kinh chung với nhau vào các dịp lễ lớn hay giỗ chạp tại các gia đình; hoặc ra khu lăng tử đạo, nơi có mộ phần cha Đặng Đức Tuấn kinh nguyện.

Bây giờ thì khu lăng tử đạo đã được che kín lợp mái như một nhà nguyện nhỏ mà chúng tôi kể ở đầu bài. Trên tấm bia đá ngoài tên cha Đặng Đức Tuấn (1806-1874) còn có ghi tên cha Simon Thọ, cha Phaolô Thoàn (cha Phaolô Thoàn là cha sở Nước Nhỉ qua đời năm 1924, cha Simon Thọ là cha sở Nước Nhỉ qua đời năm 1946). Dù không còn thể hiện rõ từng phần mộ do nấm mộ giờ đã là gian cung thánh để dâng lễ, nhưng giáo phận cũng đã xác định vị trí mộ phần các cha như sau: ngoài cùng là cha Simon Thọ, tiếp đến là cha Phaolô Thoàn, đến hài cốt các vị tử đạo và cha Macé (cố Sĩ, 1844-1885), cha Gioakim Đặng Đức Tuấn (cha Khâm).

Dấu tích lăng tử đạo nay chỉ còn là một bức tường rêu phong, đổ nát


GIA HỰU - DẤU XƯA HOANG TÀN

Dâng lời kinh nguyện tỏ lòng thành kính trước tiền nhân, rời thôn Chánh Khoan, đi thêm 40 cây số giữa buổi trưa nắng, chúng tôi đến địa sở Gia Hựu xưa. Lý do chọn điểm đến này vì cha Đặng Đức Tuấn từng giới thiệu về mình với quan huyện Mộ Đức khi bị bắt vì là linh mục: “Quê tôi Bình Định/ Làng chánh Qui Hòa/ Giữ đạo truyền gia/ Mẹ cha đã mất/ Không lập gia thất/ Có một mình tôi/ Anh em chết rồi/ không còn ai cả”.

Làng Qui Hòa theo lời cha Gioakim Đặng Đức Tuấn viết, ngày nay là thôn Qui Thuận, xã Hoài Châu Bắc, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, nơi cha sinh ra vào năm 1806. Cha Gioan Võ Đình Đệ, một người có nhiều nghiên cứu, sưu khảo về lịch sử giáo phận Qui Nhơn, cũng là một linh mục quê gốc ở Gia Hựu, thông tin cho chúng tôi rõ hơn về ngôi làng xưa đó: “Xét về phương diện tôn giáo, Qui Hòa hay Qui Thuận đã từng là trung tâm sinh hoạt tôn giáo của địa sở Gia Hựu, một địa sở kỳ cựu, sầm uất của giáo phận Qui Nhơn. Cha Gioakim Đặng Đức Tuấn là một trong ba người con của ông Đặng Đức Lành, một ẩn sĩ làm câu địa sở Gia Hựu. Gioakim Đặng Đức Tuấn có người anh là Đặng Đức Hóa  người em là Đặng Đức Bình”. Quê chốn gốc tích rõ ràng như vậy, nhưng sau nhiều chuyến điền dã, hiện cha Đệ vẫn chưa thể tìm được một người bà con nào của cha Đặng Đức Tuấn ở khu vực Gia Hựu. Cha bảo một phần vì người Công giáo ở đây giờ chỉ còn vài ba gia đình; phần khác, ngoài người em trai của ngài mất từ nhỏ, người anh lớn cũng qua đời khi còn khá trẻ, nên con cháu qua thời gian dần nhòa vết. Nhà thờ nay cũng không còn, chỉ sót lại một ít dấu tích hoang phế. Con đường đá giữa làng nghe đâu chạy ngang qua nền nhà thờ xưa, hai bên là hai công trình cũ, một là đài Đức Mẹ đã trơ vách đá sỏi bị bỏ hoang, bên còn lại là dấu vết một lăng tử đạo thời Văn Thân chỉ còn lại một mảng tường rêu phong. Cả hai đều không còn vẹn nguyên dáng hình. Thật tĩnh lặng mà cũng xót xa biết bao.

 Nhà thờ Gia Hựu xưa

 

Sách xưa ghi chép Gia Hựu từng là một giáo xứ lớn thuộc vùng cực Bắc tỉnh Bình Định, với một quần thể nhà thờ, nhà xứ, hang đá Đức Mẹ, nhà Mồ, Phước viện, trường học… Lịch sử giáo phận Qui Nhơn cũng có đoạn viết về Gia Hựu xưa: “Trong thống kê năm 1747 do cha Filipe de la Concepción ghi phần thừa sai Dòng Phanxicô phụ trách các điểm có nhà thờ cận ranh Bến Đá, về sau thuộc phần đất giáo xứ Gia Hựu: Phuoc-so (Phú Sanh - Thành Sơn) 50 giáo hữu; Ben-da (Bến Đá) 70 giáo hữu; Bau-gieng (Bàu Giêng) 300 giáo hữu; Gia-huu (Gia Hựu) 400 Giáo hữu. Bến Đá, Gia Hựu là những nơi mà Đức cha Cuénot đã chọn làm chỗ ẩn trú trong những năm tháng đầu tiên của sứ mạng Phó Đại Diện Tông Tòa Đàng Trong, trước khi chọn Gò Thị làm nơi cư trú. Sau khi thụ phong giám mục, ngài đã đi Đàng Trong vào ngày 21 tháng 6 năm 1835”. Đây là giai đoạn cha Đặng Đức Tuấn chào đời và ngài cũng như gia đình được coi sóc bởi các Thừa sai Dòng Phanxicô, tiếp đó là Đức cha Cuénot Thể. Cũng tại đây, Đức cha Stêphanô Cuénot Thể ngỏ ý với các chức việc về việc Chủng viện Penang đang cần thầy giáo Hán văn. Các chức liền giới thiệu giáo làng Đặng Đức Tuấn con ông câu Lành cho Đức chaÔng giáo làng Đặng Đức Tuấn khi đó đã vâng lời nhận lệnh Đức cha và được đưa vào Gia Định, chờ tàu đi Penang (1841-1847). Ở đây, thầy Đặng Đức Tuấn vừa dạy Hán văn cho các chủng sinh vừa tìm hiểu ơn gọi, rồi học, được thụ phong phó tế ở Đại Chủng viện Penang trước khi trở về Việt Nam chịu chức linh mục.

Gia Hựu đến thời điểm hơn 50 năm trước vẫn còn sầm uất lắm. Thống kê năm 1966 - năm cuối cùng giáo xứ này có tên trong bảng thống kê của địa phận Qui Nhơn - số giáo dân vẫn còn là 4.714 người. Thời gian ngắn sau đó thì họ đã ồ ạt di cư vì chiến tranh đã bùng nổ khốc liệt trên vùng đất này. Năm 1967, cha Gioakim Nguyễn Du và một số giáo dân đã về thăm lại Gia Hựu, sau đó cha đã bàn việc giúp dân hồi cư nhưng không thể thực hiện được. Từ năm 1968-1972, bom đạn cày xéo, tàn phá tất cả cơ sở vật chất của Gia Hựu. Sau ngày hòa bình, một vài giáo dân trở về. Số tín hữu ít ỏi này được cha sở xứ Đại Bình coi sóc đến tháng 8.2017, khi Đức cha Mattheu Nguyễn Văn Khôi ban hành quyết định tái thành lập giáo xứ Thác Đá với tên gọi Thác Đá Hạ (cách Gia Hựu 25 cây số), thì họ thuộc về giáo xứ Thác Đá Hạ.

Ông biện Thiện giới thiệu với người viết gian cung thánh có mộ phần của các linh mục và những vị tử đạo ở Nước 
Nhỉ

Bao lần vì hoàn cảnh, người dân rời đi khỏi mảnh đất quê hương, nhưng những nền đá xưa cũ vẫn trơ cùng tuế nguyệt, như một chứng nhân của lịch sử đức tin một vùng đất. Sau giấc ngủ quên dài đằng đẵng, miền quê Gia Hựu vẫn như đang chờ đợi sự đánh thức để không chỉ những ai là con cháu xứ này mới nhớ đến, mới tìm vềXứ sở và con người vốn vẫn là mối dây gắn với nhau, nên những dòng tư liệu cộng hưởng cùng một buổi trưa trên miền đất cũ, trong cô tịch và quạnh quẽ, ít nhiều phác họa thêm về chân dung một bậc hiền tài trong tôi: cha Gioakim Đặng Đức Tuấn.

 

Những di thảo của cha Ðặng Ðức Tuấn để lại cho thấy tinh thần yêu nước của một người Công giáo Việt Nam, biết kết hợp hai lý tưởng Thiên Chúa và Tổ quốc. Bên cạnh những tác phẩm như Nguyên đạo, Minh đạo… là những tập sách trình bày  giáo lý đạo Công giáo, nhằm giải tỏa những sự ngộ nhận, hiểu lầm của các nhà Nho đối với đạo, và ít nhất 6 bản điều trần bàn về các kế sách ích nước… Ngoài ra, danh nhân Ðặng Ðức Tuấn còn để lại nhiều bài văn, áng thơ chữ Hán liên quan đến vấn đề quốc sử và giáo sử như Nguyễn vương phục quốc, Gia Long thống nhất, Những ngày truyền giáo đầu tiên, Việc cấm đạo thời Minh Mạng, Thiệu Trị…; các bài văn tế kể về hoạn nạn của ông như Trên đường lâm nạn, Phụng chỉ lai kinh điều trần việc nước việc đạo; các bài văn tế khóc giáo dân tử nạn…

 

Minh Hải

Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Linh mục Thái Nguyên, người nhạc sĩ nặng lòng với thánh nhạc
Linh mục Thái Nguyên, người nhạc sĩ nặng lòng với thánh nhạc
Với người yêu mến thánh ca, những tên tuổi như Duy Thiên, Mi Trầm, Ân Ðức… đã trở nên quen thuộc, dù đó chỉ là bút danh hay nghệ danh của các vị linh mục - nhạc sĩ này. Và Thái Nguyên cũng là trường hợp tương tự.
Những người dọn bàn thánh
Những người dọn bàn thánh
Việc dọn bàn thánh dù thấy nhỏ bé, âm thầm, nhưng những người đảm trách luôn ý thức phận vụ của mình sao cho chu đáo nhất có thể. Và họ luôn là người đến nhà thờ sớm nhất.
Những “thợ gặt” trong tháng 6
Những “thợ gặt” trong tháng 6
Tháng Sáu - tháng Thánh Tâm - là thời gian nhiều giáo phận, dòng tu tổ chức thánh lễ truyền chức, khấn dòng cho các tu sĩ. Có thể xem đây là mùa gặt ơn gọi hằng năm…
Linh mục Thái Nguyên, người nhạc sĩ nặng lòng với thánh nhạc
Linh mục Thái Nguyên, người nhạc sĩ nặng lòng với thánh nhạc
Với người yêu mến thánh ca, những tên tuổi như Duy Thiên, Mi Trầm, Ân Ðức… đã trở nên quen thuộc, dù đó chỉ là bút danh hay nghệ danh của các vị linh mục - nhạc sĩ này. Và Thái Nguyên cũng là trường hợp tương tự.
Những người dọn bàn thánh
Những người dọn bàn thánh
Việc dọn bàn thánh dù thấy nhỏ bé, âm thầm, nhưng những người đảm trách luôn ý thức phận vụ của mình sao cho chu đáo nhất có thể. Và họ luôn là người đến nhà thờ sớm nhất.
Những “thợ gặt” trong tháng 6
Những “thợ gặt” trong tháng 6
Tháng Sáu - tháng Thánh Tâm - là thời gian nhiều giáo phận, dòng tu tổ chức thánh lễ truyền chức, khấn dòng cho các tu sĩ. Có thể xem đây là mùa gặt ơn gọi hằng năm…
Một nữ tu bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về Thánh nhạc tại Rome
Một nữ tu bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về Thánh nhạc tại Rome
Sáng 12.6.2024 (giờ Rome), tại Giáo hoàng Học viện về Thánh nhạc ở Rome, nữ tu Maria Mai Thị Xuân Huyên, hội dòng Mến Thánh Giá Phan Thiết, đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ và đạt được kết quả tối ưu.
Ðổi mới tinh thần của Tông huấn “Giáo hội tại Á châu”
Ðổi mới tinh thần của Tông huấn “Giáo hội tại Á châu”
FABC vùng Ðông Nam Á tổ chức Ðại hội Loan báo Tin mừng tại  Tòa Giám mục Xuân Lộc, Việt Nam với chủ đề: “Ðổi mới tinh thần của Tông huấn Giáo hội tại Á châu”
Tưởng nhớ Ðức cha Pierre Lambert de la Motte
Tưởng nhớ Ðức cha Pierre Lambert de la Motte
Ðức cha Pierre Lambert de la Motte qua đời cách đây 345 năm. Nhân lễ giỗ của ngài, nhiều giáo phận, hội dòng đã có nhiều hoạt động tưởng niệm và tri ân vị thừa sai…
Giảng dài, ngắn
Giảng dài, ngắn
Đức Thánh Cha Phanxicô một lần nữa kêu gọi các linh mục hãy giảng ngắn gọn súc tích, các bài giảng không nên dài quá 8 phút, vì dài hơn thời gian này thì giáo dân sẽ mất chú ý, dễ buồn ngủ.
Làm sạch các dòng sông tại huyện Vĩnh Thạnh, TP Cần Thơ
Làm sạch các dòng sông tại huyện Vĩnh Thạnh, TP Cần Thơ
Sau lễ phát động vào sáng 17.6.2024, đoàn đã cùng với bà con vớt bèo, vớt rác dưới dòng kinh B.
Tổng Giáo phận Hà Nội chuẩn bị các hoạt động cuối năm
Tổng Giáo phận Hà Nội chuẩn bị các hoạt động cuối năm
Tại Trung tâm Mục vụ TGP Hà Nội, vào ngày 14.6.2024 các Ban Mục vụ TGP đã tổng kết 6 tháng đầu năm 2024 và bàn thảo kế hoạch mục vụ trong thời gian tới.