Thứ Bảy, 26 Tháng Mười Hai, 2015 08:01

Đối thoại liên tôn, một cách thế loan báo Tin Mừng cho các anh chị em thuộc các tôn giáo ngoài Kitô giáo (Cv 17,16-34; 19,23-36)

Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Tuyên Ngôn về liên lạc của Giáo Hội với các Tôn Giáo khác ngoài Kitô giáo (Nostra Aetate), chúng ta cùng nhau cố gắng hiện thực hóa mong ước của Giáo Hội từ 50 năm trước, đó là Giáo Hội muốn đối thoại với các tôn giáo ngoài Kitô giáo, một cuộc đối thoại trong Chân Lý và trong Bác Ái yêu thương. Tuyên Ngôn rất ngắn gọn này của Công Đồng Vaticano II, (chỉ vỏn vẹn có 5 số), đã lưu ý chúng ta rằng (1) không phải vì sự quý trọng đối với các tôn giáo khác, (2) không phải vì tính cách phức tạp và bất đồng với các tôn giáo khác trong một số vấn đề, mà Giáo Hội Công Giáo nên im tiếng, không muốn đối thoại, không loan báo Đức Giêsu cho những anh chị em ngoài Kitô giáo; trái lại, Giáo Hội quan niệm rằng, những anh chị em này có quyền biết đến sự phong phú khôn lường của Mầu Nhiệm Đức Kitô (xem Ep 3,8).

Đức cha Stêphanô cùng các tôn giáo bạn

Để cho việc loan báo Tin Mừng về Đức Kitô cho mọi người và cho những anh chị em thuộc các tôn giáo ngoài Kitô giáo đạt được kết quả khả quan, chúng ta cần phải đặc biệt quan tâm đến hai điều sau đây : (1). Hiệp thông, (2). Đối thoại.

I. Sống linh đạo hiệp thông

“Sức mạnh của việc loan báo Tin Mừng sẽ bớt đi nhiều nếu những người loan báo chia rẽ nhau bằng đủ thứ gãy vỡ... Thật vậy, nếu Tin Mừng mà chúng ta công bố lại cho thấy bị sâu xé bởi những cãi cọ về giáo thuyết, những phân cực ý thức hệ hay những kết án lẫn nhau giữa các Kitô hữu, tùy theo những cách họ nhìn khác nhau về Đức Kitô và về Giáo Hội, kể cả cách nhìn khác nhau về xã hội và về các thể chế nhân loại, thì làm sao những người được chúng ta rao giảng lại khỏi bị dao động, lạc hướng nếu không nói là bị vấp phạm? Di chúc thiêng liêng của Chúa nói với chúng ta rằng sự hiệp nhất giữa các môn đồ của Người, không chỉ là bằng chứng chúng ta thuộc về Người, mà còn là bằng chứng Người do Chúa Cha sai đến, là trắc nghiệm về sự đáng tin của các Kitô hữu và của chính Đức Kitô. Là những sứ giả Tin Mừng, chúng ta cần hiến cho các tín hữu của Đức Kitô, không phải hình ảnh những con người chia lìa nhau vì tranh chấp không chút xây dựng, nhưng là hình ảnh những con người chín chắn trong đức tin, có khả năng gặp gỡ nhau bên trên những căng thẳng thực tế, nhờ việc cùng nhau tìm kiếm chân lý một cách chân thành và vô vị lợi” (LBTM số 43.).

“Biến Giáo Hội thành ngôi nhà và trường học của hiệp thông : đó là một thách đố lớn mà chúng ta phải giáp mặt trong thiên niên kỷ mới khởi đầu, nếu chúng ta muốn trung thành với kế họach của Thiên Chúa và đáp ứng những khát vọng sâu xa nhất của thế giới” (LBTM số 43).

Đức cha Stêphanô chào hỏi thân tình với một đạo hữu cao đài

a/. Nhưng linh đạo hiệp thông là gì ?

Linh đạo hiệp thông là cách sống vâng theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần để làm cho mình trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô (xem Rm 8,29), luôn vun đắp, xây dựng tình đoàn kết, yêu thương, tránh mọi hình thức chia rẽ, phân hóa, có khả năng vừa sống hiệp thông với Thiên Chúa vừa sống hiệp thông với người khác :

* Linh đạo hiệp thông giúp ta có khả năng chiêm niệm trong lòng mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, Đấng đang ngự trong tâm hồn của mỗi người chúng ta, và từ đó, chúng ta cũng khám phá ra được sự hiện diện của Người đang chiếu tỏa trên khuôn mặt của mỗi anh chị em chung quanh chúng ta.

* Linh đạo hiệp thông giúp chúng ta chú ý đến anh chị em chúng ta và biết nhìn anh chị em chúng ta bằng cái nhìn của đức tin. Cái nhìn này giúp chúng ta nhận ra rằng mỗi con người đều được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa và đều được Máu châu báu của Đức Kitô cứu chuộc. Nhờ đó, chúng ta luôn nhìn những anh chị em khác như là “những chi thể của tôi”. Cảm nghiệm được điều đó, sẽ giúp chúng ta có khả năng chia sẻ những niềm vui và những đau khổ của họ, cảm nhận những ước muốn của họ và chú ý đến những nhu cầu của họ, trao tặng cho họ tình bạn sâu sắc và chân thực.

* Linh đạo hiệp thông còn là khả năng thấy điều tích cực nơi kẻ khác, đón nhận và khen ngợi điều tích cực đó như là một quà tặng xuất phát từ Thiên Chúa : không chỉ như là một quà tặng cho người anh em hay chị em đã trực tiếp nhận lãnh, mà còn như là “Một quà tặng cho tôi”.

* Linh đạo hiệp thông còn là biết dành chỗ cho các anh chị em chúng ta, bằng cách mang gánh nặng cho nhau và chống lại những cám dỗ ích kỷ thường bao vây chúng ta và khơi dậy sự ganh đua, ham hố danh vọng, ngờ vực và ghen tương.

ĐHY GB Phạm Minh Mẫn trong buổi gặp gỡ chức sắc các tôn giáo

b/. Hiệp thông với những ai ?

(1). Hiệp thông trong Hội Thánh.

Cần phải giúp cho mọi người quan tâm đến việc giữ gìn sự hiệp nhất trong chính Giáo Hội. Đó chính là điều mà Đức Giêsu luôn quan tâm nhắc nhở cho các môn đệ của Người. Không chỉ nhắc nhở, Người còn luôn cầu nguyện với Chúa Cha cho sự hiệp nhất đó (x. Ga 17,21). Chúng ta ý thức góp phần cho sự hiệp nhất của Giáo Hội, hiệp nhất với ĐGH, các tổ chức phẩm trật Giáo Hội, các Thượng Hội Đồng và các hoạt động của các Hội đồng Giám mục. Ngoài ra, sự hiệp nhất đó còn nới rộng ra tới mọi cấp bậc trong các cơ cấu của đời sống Giáo Hội, với các Giám mục, các Linh mục, Phó tế, giữa các chủ chăn với toàn thể cộng đoàn dân Chúa, giữa hàng giáo sĩ và tu sĩ, giữa các hiệp hội và những phong trào hoạt động vì Giáo Hội, trong Giáo Hội và cho Giáo Hội.

(2). Hiệp thông với Thế Giới.

Sự hiệp thông không chỉ dừng lại trong nội bộ của Giáo Hội, nhưng đức ái Kitô giáo thôi thúc chúng ta “dấn thân yêu mến mọi người cách thiết thực và cụ thể” (LBTM số 49). Theo gương của Đức Kitô, không một ai trên trần thế này, bị loại trừ ra khỏi tình yêu của chúng ta. Sự hiện diện của Đức Kitô trong những người nghèo khổ “đòi buộc Hội Thánh ưu tiên chọn lựa người nghèo. Sự chọn lựa này là một chứng tá về bản tính của tình yêu Thiên Chúa, sự quan phòng và lòng thương xót của Người; và bằng cách đó, lịch sử vẫn còn đầy dẫy những hạt giống của Nước Chúa mà chính Chúa Giêsu đã gieo vãi khi còn sống dưới thế này, mỗi lần Người đáp lại những ai đến với Người với những nhu cầu thiêng liêng và vật chất của họ” (LBTM số 49).

Không ai phủ nhận rằng, thế giới chúng ta đang sống chất đầy những mâu thuẫn : bên cạnh những tăng trưởng kinh tế, văn hóa và kỹ thuật vượt bậc, lại đang có những người chết vì đói, bị kết án sống trong tình trạng mù chữ, thiếu sự chăm sóc thuốc men cơ bản nhất, không có được một nơi ở xứng với phẩm giá con người. Là những người Kitô hữu, những đồ đệ của Đức Kitô, chúng ta không được tỏ ra thờ ơ lãnh đạm trước : (1) Sự thất vọng của biết bao nhiêu người vì cuộc sống vô nghĩa; (2) tình trạng nghiện ngập ma túy ngày càng gia tăng; (3) nỗi sợ hãi bị ruồng bỏ vì tuổi già hay vì bệnh tật; (4) tình trạng nhiều người phải sống vất vưởng bên lề xã hội… Có vô vàn vô số những nhu cầu của con người đang kêu cứu sự nhạy cảm của các Kitô hữu. Các Kitô hữu phải học biết cách thể hiện đời sống đức tin trong Đức Kitô, bằng cách nhận ra tiếng Chúa trong tiếng kêu cứu giúp đỡ, nổi lên từ thế giới nghèo đói này và thực thi truyền thống bác ái đã được Giáo Hội thực hiện từ hơn hai ngàn năm qua. “Bây giờ là thời gian cho sự sáng tạo mới trong đức ái, không những bằng cách bảo đảm cho sự giúp đỡ đạt được hiệu quả, nhưng cũng bằng cách sống gần, tiếp cận và tiếp xúc với những ai đang đau khổ, làm sao để hành vi giúp đỡ được cảm nhận không như là một sự bố thí làm mất thể diện, nhưng như một sự chia sẻ giữa anh chị em” (LBTM số 50).

Bên cạnh những vấn đề nghèo đói, việc loan báo Tin Mừng còn phải đối diện với những thách đố mới, có ảnh hưởng không nhỏ đến việc xây dựng sự hiệp thông : chẳng hạn (1) khủng hoảng về môi trường sinh thái; (2) vấn đề hòa bình; (3) những vi phạm nhân quyền, coi thường những quyền cơ bản của nhiều người, nhất là của phụ nữ và trẻ em; (4) thiếu tôn trọng sự sống của mỗi con người, từ lúc thụ thai cho đến khi chết tự nhiên; (5) vấn đề di dân… (x. Thông điệp Laudato Si của Đức Giáo Hoàng Phanxicô)

Tinh thần hiệp thông giúp chúng ta biết mở rộng lòng cho Chúa và cho mọi người. Đó chính là điều kiện đầu tiên, nhờ đó chúng ta có thể đến với mọi người để đối thoại với họ.

II. Tinh thần đối thoại

Đối thoại là một phương thế đang được cả thế giới cũng như Giáo Hội quan tâm cách đặc biệt, nhằm giải quyết các vấn đề vướng mắc, bất đồng, tranh chấp... thay cho những phương thế như bạo lực, bạo động, chiến tranh...

Tại Á Châu và riêng tại Việt Nam, một đất nước đa văn hóa và đa tôn giáo, tinh thần đối thoại là một sách lược hết sức quan trọng và cần thiết để giúp chúng ta hiểu và sống chung hòa bình với những anh chị em có niềm tin khác với chúng ta. Đối thoại không chỉ là bổn phận mà còn là một thách đố không nhỏ đối với Kitô giáo.

1/. Đối thoại đại kết.

a/. Lý do : Tại Việt Nam, những người cùng tin Chúa Kitô chỉ là một thiểu số. Muốn loan báo Tin Mừng cho những anh chị em khác, đòi hỏi những người cùng chung niềm tin vào Đức Kitô phải sống hiệp nhất và hiệp thông với nhau. Có hiệp nhất thì những người khác mới tin vào những gì chúng ta rao giảng. Sự chia rẽ giữa các người tin Chúa Kitô quả là một gương xấu trầm trọng làm cản trở cho sứ vụ loan báo Tin Mừng cho những anh chị em thuộc các tôn giáo khác.

b/. Những thái độ phải có cho việc đối thoại đại kết đạt được kết quả tốt :

* Tinh thần hợp tác và cộng tác với các anh chị em Kitô hữu khác, chẳng hạn như dịch thuật và phổ biến Thánh Kinh, các công tác từ thiện, trao đổi những tài liệu, nhạc, phương pháp học hỏi Thánh Kinh...

* Luôn trung thành với đức tin Công giáo, nắm vững giáo lý, học hỏi và nghiên cứu Thánh Kinh để có thể dễ dàng gặp nhau khi đối thoại.

* Suy xét, phân định để thấy được những cái tốt, cái hay để ca ngợi, học hỏi...

* Thành thật muốn gạn đục khơi trong để đổi mới và cải thiện chính mình.

c/. Cầu nguyện cho đại kết, học hỏi và đào tạo về đại kết; củng cố niềm tin cho giáo dân, hướng dẫn và giúp giáo dân đọc, học hỏi, suy niệm và tìm hiểu Thánh Kinh cách nghiêm túc và thường xuyên.

2/. Đối thoại Liên Tôn.

a/. Lý do : Việt Nam là một nước đa tôn giáo. Cần phải đối thoại để hiểu nhau hơn, cộng tác với nhau và học hỏi lẫn nhau, giúp nhau nên phong phú hơn. Nhất là nhằm giới thiệu cho những anh chị em thuộc các tôn giáo khác biết về Đức Giêsu Kitô, Đấng “là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống”, là Đấng Cứu Độ duy nhất mà Thiên Chúa Cha đã sai đến trần gian.

b/. Điều kiện phải có :

* Không được từ bỏ các nguyên tắc (truyền thống đức tin và xác tín tôn giáo).

* Hòa hợp chứ không hòa đồng. Phải chứng tỏ cho nhau thấy mỗi bên muốn cho nhau được tiến bộ hơn về tôn giáo của mình, và xóa bỏ đi những thành kiến, loại bỏ thái độ bất khoan dung và xua tan những hiểu lầm.

* Các Kitô hữu phải có một đức tin trưởng thành và chắc chắn nhờ việc học hỏi giáo lý Công giáo cách nghiêm túc, nhờ việc học hỏi và đào sâu Thánh Kinh để hiểu biết thấu đáo về Thiên Chúa và về Đức Giêsu Kitô, phải sống hạnh phúc trong cộng đoàn đức tin của mình. Cũng cần phải quan tâm tìm hiểu về các tôn giáo bạn, và cũng cần phải được chuẩn bị đầy đủ  để có thể đối thoại hiệu quả.

3/. Những hình thức đối thoại liên tôn.

* Đối thoại bằng cuộc sống. Phải đối thoại trước tiên bằng cuộc sống và bằng tấm lòng. Một cuộc sống giản đơn và tích cực, một tấm lòng khiêm tốn, dịu dàng, không tự phụ cũng không trịch thượng, tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau. Mỗi người cố gắng sống cởi mở và sống với nhau như những người láng giềng tốt, cùng nhau chia vui sẻ buồn, chia sẻ các vấn đề và những lo âu của con người.

* Đối thoại bằng cộng tác. Cộng tác với nhau để cùng lo phát triển con người toàn diện (văn hóa, hội nhập văn hóa, thăng tiến con người và xã hội).

* Đối thoại bằng trao đổi thần học.

* Đối thoại bằng chia sẻ kinh nghiệm tôn giáo (kinh nghiệm về cầu nguyện, chiêm niệm, chay tịnh, về đức tin, về đường lối tìm kiếm Đấng Tối Cao...).

4/. Những trở ngại và khó khăn cho việc đối thoại :

* Chưa nắm vững Giáo lý, chưa nghiên cứu, học hỏi sâu rộng về Thánh Kinh, chưa xác tín vững chắc và kiên vững trong niềm của mình.

* Chưa hiểu biết đầy đủ về niềm tin và các việc thực hành tôn giáo của các tôn giáo khác, từ đó có thể dẫn đến hiểu lầm, hiểu sai lạc, đánh giá thấp và giải thích sai lạc về các tôn giáo khác.

* Trình độ văn hóa khác nhau, việc sử dụng một số từ ngữ quá đặc thù và quá chuyên biệt của mỗi tôn giáo có thể trở nên quá khó hiểu và đôi khi dễ gây hiểu lầm, chẳng hạn một số cách nói như : trở lại đạo, rửa tội, ăn chay...

* Tính tự mãn, tự cao, tự đại, thiếu cởi mở, chỉ lo tự vệ, dễ gây sự, dễ dẫn đến tranh cãi, thiếu khiêm tốn, thiếu tôn trọng lẫn nhau...

* Trình bày và diễn tả các xác tín tôn giáo của mình theo tinh thần hiếu chiến, hiếu thắng, biện giáo, hộ giáo, độc thoại hơn là đối thoại.

Việc đối thoại đại kết và liên tôn quả là một việc làm hữu ích và cần thiết. Tuy nhiên, đây quả không phải là một công việc đơn giản và dễ dàng. Để góp phần cho công việc đối thoại này, mỗi người chúng ta cần phải luôn ý thức và tự hỏi : tôi đã, đang và có thể làm được gì cho việc đối thoại đại kết và đối thoại liên tôn tại Việt Nam ?

ĐGM Stêphanô Tri Bửu Thiên

Ý kiến bạn đọc ()
Tin tức liên quan
Tin khác
Xem thêm