Thứ Sáu, 10 Tháng Bảy, 2020 14:27

“Giáo dân Việt Nam đã sống tích cực tinh thần Thư Chung 1980 bằng cách dấn thân hòa mình với cộng đồng dân tộc...”

 

Trong vai trò Chủ tịch Ủy ban Giáo dân trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam, Ðức cha Giuse Trần Văn Toản - Giám mục GP Long Xuyên, đã chia sẻ với CGvDT những suy tư cũng như nhận định của ngài về ảnh hưởng của Thư Chung 1980/HÐGMVN đến đời sống người giáo dân, cùng ước mong, kỳ vọng cho tương lai nhắm đến sự thăng tiến con người.

 


CGvDT: Từ góc độ của mình, Ðức cha đánh giá thế nào về Thư Chung 1980? Trải qua 40 năm, Thư Chung hiện có còn giá trị thời sự không, thưa Ðức cha?

ÐGM Giuse Trần Văn Toản: Ðọc lại Thư Chung trong hoàn cảnh hiện tại, bản thân tôi nhận ra những điểm nổi bật để suy tư và chia sẻ. 

 

Về căn tính Dân Thiên Chúa của Hội Thánh Việt Nam - Thư Chung 1980 có nội dung thấm nhuần giáo huấn của Công Ðồng Vatican II. Trong đó cũng trích dẫn các văn kiện của các Ðức Giáo Hoàng hậu Công Ðồng. Ðó là Ðức thánh Giáo Hoàng Phaolô VI và Ðức thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Xuyên qua huấn giáo của Giáo hội, Thư Chung cắm rễ vào huấn giáo của các Tông đồ, cụ thể là các sách Tin Mừng, sách Công Vụ Tông Ðồ, thư gởi giáo đoàn Epheso... Từ đó, trình bày căn tính của Hội Thánh là Dân Thiên Chúa (số 6), một Hội Thánh vì con người (số 7), một Hội Thánh trong lòng dân tộc (số 8 và 9), một Hội Thánh của Chúa Kitô để tiếp tục sứ vụ của Ngài trên trần gian là phát triển Nước Chúa cho tới ngày Chúa đến trong vinh quang. 

Sống trong bầu khí hiệp nhất và chan hòa, các tín hữu nhiệt tình dấn thân loan truyền đức tin. Trong ảnh: Giáo xứ Công Chính, GP Ban Mê Thuột tặng quà tại làng phong buôn M’Jam, xã Ea Trang, huyện M’Drak, tỉnh Đăk Lăk, tháng 7.2019

 

Về sứ vụ xây dựng Hiệp Thông của Hội Thánh Việt Nam : Theo tôi, Thư Chung được coi như là bản hướng dẫn để các Kitô hữu, là giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân Việt Nam, tìm ra ý nghĩa của biến cố lịch sử của Hội Thánh Việt Nam. Ðây là lần đầu tiên sau 20 năm được thành lập (1960), Hội đồng Giám mục Việt Nam tổ chức hội nghị để cầu nguyện và suy nghĩ về nhiệm vụ của Hội Thánh sau biến cố lịch sử 1975 như là dấu chỉ của thời đại. Từ những dấu chỉ đó, Hội Thánh Việt Nam sống Tin Mừng và giáo huấn của Hội Thánh toàn cầu trong hoàn cảnh lịch sử mới của dân tộc Việt Nam. Trong đường hướng này, Thư Chung mời gọi cộng đoàn Kitô hữu Việt Nam thi hành sứ mạng của Hội Thánh, là khí cụ xây dựng sự hiệp thông với Thiên Chúa, hiệp thông trong Hội Thánh và hiệp thông với toàn thể nhân loại trong cuộc lữ hành trần gian tại quê hương đất nước Việt Nam (số 8).

Về linh đạo màu nhiệm Nhập Thể của Hội Thánh Việt Nam : Là khí cụ hiệp thông, Hội Thánh Việt Nam được hướng dẫn sống đồng hành với dân tộc và đất nước (số 9). Gắn bó với dân tộc và đất nước, mọi thành phần Dân Chúa được kêu gọi tích cực góp phần cùng đồng bào cả nước bảo vệ và xây dựng tổ quốc (số 10). Ðồng thời, Hội Thánh sống đức tin và diễn tả đức tin phù hợp với truyền thống dân tộc Việt Nam (số 11). Ðây là cách sống đối thoại theo mô hình của mầu nhiệm Nhập Thể và Nhập Thế của Chúa Kitô. Với cách sống đối thoại, Hội Thánh là hiện thân của Chúa Kitô, hiện diện với con người, phục vụ con người, yêu thương con người, với hy vọng hướng về “Trời mới đất mới”, trong đó là mọi người sống trong hòa hợp và hạnh phúc.

Quả thật, trong Thư Chung, HÐGMVN kêu gọi mọi thành phần Dân Chúa, là giáo dân, là tu sĩ, là linh mục “phải đồng hành với dân tộc mình, cùng chia sẻ một cộng đồng sinh mạng với dân tộc mình, vì quê hương này là nơi chúng ta được Thiên Chúa mời gọi để sống làm con của Người, đất nước này là lòng mẹ cưu mang chúng ta trong quá trình thực hiện ơn gọi làm con Thiên Chúa, dân tộc này là cộng đồng mà Chúa trao cho chúng ta để phục vụ với tính cách vừa là công dân, vừa là thành phần Dân Chúa (số 9).

Cùng nhau sinh hoạt, học hỏi Lời Chúa

 

Theo tôi, trải qua 40 năm lịch sử, Giáo hội Việt Nam đã có nhiều nỗ lực thực hiện những chỉ dẫn của Thư Chung.

Trước hết, Hội Thánh Việt Nam, trong niềm tín thác vào tình yêu Thiên Chúa và trong niềm tin tưởng vào lòng tốt của con người, đã vượt qua từ cái nhìn mặc cảm và tiêu cực về quá khứ, để can đảm nắm bắt những thời cơ ở hiện tại với niềm hy vọng vào tương lai. Quả thật, từ một tình trạng có nhiều khác biệt giữa các cộng đoàn Kitô hữu tại 3 miền Bắc Trung Nam của Giáo hội Việt Nam, các Hội Thánh địa phương đã củng cố và phát huy sự hiệp nhất với nhau, hiệp nhất với các Hội Thánh tại Á châu, và hiệp nhất với Hội Thánh toàn cầu. Sự hiệp nhất trong Giáo hội Việt Nam đã được biểu lộ cụ thể qua các cuộc hội nghị và đại hội thường kỳ của HÐGMVN. Sự hiệp nhất với các giáo hội địa phương tại Á châu được chứng minh qua Hội nghị toàn thể của Liên hiệp Hội đồng Giám mục Á Châu (FABC) năm 2012 được tổ chức tại giáo phận Xuân Lộc và Tổng Giáo phận TPHCM. Và sự hiệp nhất với giáo hội toàn cầu được chứng tỏ qua mối hiệp thông với Ðức Giáo Hoàng và Tòa Thánh từ những cuộc Ad Limina vào những năm 1980, 1985, 1990, 1996, 2002, 2009, 2018, cùng với sự hiện diện của vị đại diện Tòa Thánh không thường trú tại Việt Nam từ 2011 tới nay. 

Ngoài ra, từ một tình trạng hiện diện trong một xã hội với nhiều đố kỵ và nghi ngờ, nhiều mặc cảm và những phán đoán tiêu cực từ nhiều phía, cộng đoàn tín hữu Việt Nam đã từng bước trở nên tích cực và nhiều sáng tạo trong việc sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc để gắn bó với dân tộc, để cùng đồng bào cả nước bảo vệ và xây dựng tổ quốc. Ðồng thời, trong bầu khí hiệp nhất và sống chan hòa, các tín hữu nhiệt tình đào sâu đức tin, sốt sắng cử hành đức tin, mạnh bạo sống đức tin và dấn thân loan truyền đức tin.

Chúng ta tạ ơn Chúa vì Thư Chung 1980, đồng thời cũng tạ ơn các bậc tiền bối đã là dụng cụ của Chúa Thánh Thần gởi sứ điệp từ Thư Chung 1980 đến chúng ta.

Giáo dân sống tinh thần Thư Chung 1980 bằng cách tích cực cộng tác vào các lĩnh vực bác ái, y tế, giáo dục xã hội

 

CGvDT: Là người phụ trách Ủy ban giáo dân, theo dõi sát sao đời sống của cộng đoàn giáo dân Việt Nam, Ðức cha nhận thấy người giáo dân đã và đang sống tinh thần Thư Chung 1980 ra sao?

ÐGM Giuse Trần Văn Toản: Nhờ Thư Chung 1980, các Kitô hữu tại Việt Nam đã nỗ lực vượt thắng sự mặc cảm về quá khứ, lo sợ cho hiện tại, và băn khoăn về tương lai sau năm 1975. Quả thật, các tín hữu Việt Nam đã và đang sống chan hòa với cộng đồng dân tộc trong niềm tự hào mình là người Việt Nam. Với niềm tự hào này, giáo dân Việt Nam đã sống tích cực tinh thần Thư Chung 1980 bằng cách dấn thân hòa mình với cộng đồng dân tộc trong mọi lãnh vực của đời sống và của tổ chức xã hội, đặc biệt là lãnh vực xã hội bác ái, y tế, và giáo dục. 

Thực vậy, theo lời khuyên của số 12 trong Thư Chung 1980, người giáo dân Việt Nam trong những năm qua đã sống ơn gọi nên thánh trong đời sống gia đình và giữa xã hội trần thế. Hơn nữa, nhờ giáo dân, Hội Thánh hiện diện trong mọi lãnh vực của đời sống con người và trong nhiều cơ cấu xã hội, để nhờ giáo dân, Tin Mừng Ðức Kitô là muối, là men, và là ánh sáng giữa lòng đời. Nhờ sự hiện diện của giáo dân trong thế giới, Chúa Kitô tiếp tục sống mầu nhiệm Nhập thể, Nhập thế, và Vượt qua của Người, để chia sẻ, để phục vụ, để hy sinh và để hy vọng. 

Vì thế, sau 30 năm người giáo dân sống đạo theo hướng dẫn của Thư Chung 1980, Thư chung Ðai hội Dân Chúa năm 2010 đã ghi nhận: Trong đời sống Giáo hội tại Việt Nam, giáo dân đã và đang góp phần thật phong phú và quảng đại cho đời sống và sứ vụ của Giáo hội, như mang Tin Mừng của Chúa đến những vùng xa xôi hẻo lánh, chia sẻ công sức tiền của, nhất là những lời cầu nguyện và bao hy sinh âm thầm để xây dựng sự hưng thịnh và sinh động của cộng đoàn Dân Chúa. Thật đáng trân trọng những đóng góp quý giá đó… (số 27).

Người trẻ Công giáo được  Giáo hội kỳ vọng nhiều

 

CGvDT: Theo Ðức cha, người giáo dân cần được khuyến khích hay cổ vũ thêm điều gì để phát huy vai trò trong thời đại hôm nay?

ÐGM Giuse Trần Văn Toản: Con đường phía trước còn dài với nhiều thách đố đa dạng cho Hội Thánh Việt Nam. Tuy nhiên, theo đường hướng của Giáo hội từ Công đồng Vatican II, vai trò của người giáo dân trong Giáo hội và trong xã hội đang được đặc biệt quan tâm.

Ủy ban Giáo dân trực thuộc HÐGMVN đang nỗ lực góp phần mình giúp người giáo dân ý thức về phẩm giá của mình trong Giáo hội cũng như trong xã hội; đồng thời tạo điều kiện để họ ngày càng trưởng thành, nhờ đó có thể sống ơn gọi và thi hành sứ vụ của người giáo dân trong Giáo hội và trong thế giới hôm nay. 

Từ hướng dẫn của Thư Chung 1980, và trong hoàn cảnh hiện nay tại Việt Nam, Ủy ban Giáo dân kỳ vọng vào người giáo dân Việt Nam dấn thân vào hai nhiệm vụ sau đây: 

Nhiệm vụ thứ nhất là, người giáo dân, cùng với hàng giáo sĩ và tu sĩ, tích cực xây dựng Hội Thánh tại Việt Nam thành gia đình của Thiên Chúa giữa cộng đồng dân tộc. Ðây là gia đình mà mọi Kitô hữu là con của Thiên Chúa và là anh chị em với nhau. Trong gia đình này, con người tôn thờ Thiên Chúa trong tinh thần và chân lý. Trong gia đình này, mọi người sống hiệp nhất yêu thương, liên đới và chia sẻ trong cuộc lữ hành trần thế. Ðây cũng là gia đình rộng mở sẵn sàng ra đi loan báo Tin Mừng cho mọi người và mời gọi mọi người tham dự vào phẩm giá là con Thiên Chúa và là con Hội Thánh. 

Nhiệm vụ thứ hai là, với sự đồng hành của hàng giáo sĩ và tu sĩ, người giáo dân, đặc biệt là giới trẻ Công giáo, cần nỗ lực cùng với cộng đồng dân tộc Việt Nam bảo vệ dân tộc khỏi cảnh đói nghèo về chân lý và công lý, cảnh đói nghèo về tình yêu và sự an hòa, đói nghèo về sự tự do nội tâm và sự phát triển con người toàn diện. Nhờ đó, người giáo dân đồng hành với dân tộc và cùng nhau bồi đắp nền văn minh tình thương và sự sống.

Với hai nhiệm vụ trên, người giáo dân đang tiếp tục sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc, để vừa tự hào là công dân Việt Nam, vừa tự hào là công dân Nước Trời.

 

CGvDT: Chúng con xin chân thành cảm ơn Ðức cha!

 

GIANG PHAN (thực hiện)

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm