Thứ Hai, 09 Tháng Tám, 2021 09:26

GÓC SUY GẪM – MÙA DỊCH COVID 19 (Mt 17,22-27; thứ Hai, tuần XIX Thường niên)

 

1. Chuyện chúng mình:

 

VKS: CÔNG TY NHẬT CƯỜNG BUÔN LẬU TINH VI, NỘP THUẾ RẤT ÍT

HÀ NỘI: Đại diện VKS cho rằng hàng hóa nhập lậu của Công ty Nhật Cường rất lớn nhưng hàng năm nộp thuế rất ít, thậm chí báo lỗ.

Sáng 7/5, ngày thứ ba xét xử, đối đáp với quan điểm bào chữa của các luật sư và 14 bị cáo trong vụ án xảy ra tại Công ty Nhật Cường, công tố viên tiếp tục khẳng định Tổng giám đốc Nhật Cường Bùi Quang Huy là chủ mưu, cầm đầu đường dây buôn lậu đặc biệt lớn trong thời gian dài.

Để che giấu và đối phó với cơ quan chức năng, Huy đã giao nhân viên xây dựng và sử dụng hai phần mềm ERP và MISA để theo dõi hoạt động của công ty. Toàn bộ dữ liệu mua bán, nguồn hàng, tài sản, doanh thu nhập vào phần mềm nội bộ ERP. MISA là phần mềm kế toán chính thống nên Huy giao cho kế toán trưởng phụ trách dùng để làm báo cáo thuế, tài chính thường kỳ với cơ quan có thẩm quyền.

Trong phần mềm nội bộ có rất nhiều số liệu về hàng hoá nhập lậu. Số thuế nộp hàng năm của Nhật Cường rất nhỏ, thậm chí có những năm báo cáo lỗ. VKS đánh giá đây là đường dây "buôn lậu chặt chẽ, tinh vi".

Theo cơ quan công tố, trong phần tranh luận về cơ bản các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội, mong được giảm nhẹ hình phạt. Riêng Nguyễn Bảo Ngọc (Giám đốc tài chính), người duy nhất bị xét xử hai tội danh, không thừa nhận hành vi vi phạm quy định kế toán.

Luật sư của Ngọc cho rằng căn cứ buộc tội "rất khiên cưỡng" bởi bị cáo là giám đốc tài chính nhưng không làm báo cáo thuế, tài chính. Ngọc bị VKS đề nghị 9-10 năm tù về tội Buôn lậu, 5-6 năm về tội Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng, tổng hợp 14-16 năm.

Đối đáp, VKS cho rằng sai phạm của Ngọc xuất phát từ hành vi buôn lậu của ông chủ Huy. Ngọc ghi chép dữ liệu vào hai hệ thống theo sự chỉ đạo của Huy để che giấu doanh số, hoạt động kinh doanh thực trong đó có buôn lậu. Ngọc còn yêu cầu kế toán trưởng gửi các tờ khai thuế, báo cáo tài chính để làm hồ sơ vay vốn. "Ngọc biết rõ công ty có hai hệ thống quản lý sổ sách để theo dõi hoạt động nhưng vẫn đồng phạm với ông chủ để thực hiện hành vi phạm tội", kiểm sát viên cáo buộc.

Đối đáp ngay sau đó, bị cáo Ngọc cho rằng chỉ là một trong các nhân viên được cấp quyền ở hệ thống nội bộ ERP. Bị cáo đề nghị HĐXX lấy tài khoản của mình để đăng nhập vào hệ thống để "có đánh giá khách quan".

Bật khóc khi nói lời sau cùng tại tòa, Ngọc gửi lời xin lỗi gia đình vì đã làm xáo trộn cuộc sống và nhắn nhủ chồng hãy ở nhà chăm sóc gia đình và các con. Ngọc hứa khi trở về "sẽ là người vợ, người mẹ tốt hơn rất nhiều với trước".

"Việc làm của bị cáo đã để lại hậu quả nghiêm trọng trong vụ án. Tuy nhiên bị cáo đã lấy dữ liệu phục vụ cơ quan điều tra để ra được bản kết luận với con số cụ thể nên mong HĐXX xem xét", Ngọc nói.

Trong lời nói sau cùng, phó tổng giám đốc Nhật Cường Trần Ngọc Ánh cũng cho hay cho hay hơn một năm rưỡi các bị cáo hàng ngày trích xuất dữ liệu cho cơ quan điều tra. "Nếu không có việc làm như vậy, cơ quan điều tra khó có bản kết luận chính xác với con số khủng. Chính các giám thị trại giam cũng nói là chưa có vụ án nào các bị cáo lại đi giúp cơ quan điều tra trích xuất dữ liệu như vậy", Ánh phân trần.

12 bị cáo còn lại trong lời nói sau cùng đều thể hiện sự ăn năn, mong HĐXX xem xét các hoàn cảnh để giảm nhẹ hình phạt, sớm trở về với gia đình.

HĐXX sau đó thông báo nghỉ nghị án, 15h ngày 10/5 sẽ tuyên án.

Từ 5/5, TAND Hà Nội xét xử 14 bị cáo liên quan sai phạm ở Nhật Cường về tội Buôn lậu và Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng. Vụ án có 15 bị cáo song một người đã chết trước khi hầu toà nên được đình chỉ điều tra.

Tổng giám đốc Huy đang bỏ trốn, việc truy tìm gần hai năm qua chưa có kết quả.

Phạm Dự

(Nguồn: https://vnexpress.net/vks-cong-ty-nhat-cuong-buon-lau-tinh-vi-nop-thue-rat-it-4274123.html)

 

2. Những con số biết nói

 

STT Quốc gia Được chữa khỏi Tử vong Tổng số
1 Belarus 448.220 3.532 453.932
2 Oman 285.057 3.936 298.706
3 Hàn Quốc 185.003 2.121 210.956
4 Việt Nam 71.497 3.397 215.507
  ...      
  Thế giới 182.701.528 4.306.588 203.402.289

Cập nhật lúc 6g35 ngày 9.8.2021

 

 

3. Khuôn vàng thước ngọc (Mt 17,22-27; thứ Hai, tuần XIX Thường niên)

Trích đoạn Tin Mừng hôm nay gợi lên cho chúng ta nhiều ý tưởng liên quan tới Kitô học. Điều chính yếu ở đây đó là, Đức Giêsu cho thấy mình chính là Con của Chúa Cha. Vì vậy, nếu việc nộp thuế là phận vụ của mọi người nhằm góp phần phụng sự Đức Chúa thì chẳng lẽ Ngài lại tự nộp thuế để phụng sự chính mình. Thật vậy, “Con cái” ở 17,25 có lẽ chỉ nên hiểu về các nhân vật trong hoàng gia, so với người ngoài tức là các công dân trong nước, hơn là hiểu về các công dân so với ngoại kiều. Dầu sao thì Đức Giêsu cũng mượn chữ con áp dụng vào chính mình Người để ám chỉ quyền của Người trên đền thờ Giêrusalem: Người là Con Thiên Chúa, nên là chủ đền thờ, chứ không phải đóng thuế. Hơn nữa, ở câu tiếp theo, Chúa còn ngụ ý nói các môn đệ của Người, trên nguyên tắc, cũng được miễn thuế nữa, vì họ trở thành anh em của Người. Phải chăng đó là cách Chúa cho hiểu rằng từ nay đã chấm dứt chế độ phụng thờ cũ của đền thờ Giêrusalem để chuyển qua nền phụng tự mới, tập trung vào chính Đức Giêsu.

 

 

Bài Tin Mừng chúng ta nghe hôm nay cho thấy, vào thời Đức Giêsu, người Do Thái không chỉ đóng thuế dân sự mà còn đóng thuế cho đền thờ nữa. Mỗi người phải nộp hai quan tiền một năm. Đức Giêsu hôm nay cũng đóng thuế cho đền thờ. Nhưng Ngài đã làm việc đó bằng một phép lạ là sai Phêrô ra biển câu lấy một con cá rồi mở miệng nó ra, lấy đồng tiền bốn quan nộp thuế cho ông và cho Ngài. Tuy câu chuyện Tin Mừng không nói tiếp là Phêrô có làm như vậy hay không nhưng rõ ràng, Đức Giêsu không muốn việc từ chối nộp thuế trở thành cớ cho người ta vấp phạm.

Thế nhưng, tại sao Đức Giêsu lại phải làm phép lạ để nộp thuế, trong khi số tiền phải nộp không phải là quá lớn? Xin thưa Đức Giêsu làm phép lạ để nộp thuế không phải vì số tiền phải nộp quá lớn, mà là để cho chúng ta hiểu rằng, xét về bản tính Thiên chúa, Đức Giêsu không cần phải nộp thuế. Đức Giêsu đã cho chúng ta thấy rõ điều đó khi Ngài hỏi Phêrô: “Vua Chúa trần gian bắt ai đóng sưu nộp thuế? Con cái mình hay người ngoài”? Và Phêrô đã trả lời đúng: “Thưa, người ngoài”. Như vậy, Đức Giêsu là con, nên Ngài không cần phải nộp thuế. Mặc dù vậy, Ngài vẫn nộp thuế là để cho chúng ta hiểu rằng, một khi đã nhập thể làm người, Đức Giêsu đã muốn hòa nhập hoàn toàn vào đời sống xã hội và tôn giáo như mọi người, hơn nữa, Ngài muốn chia sẻ trọn vẹn kiếp người với chúng ta.

Tuy nhiên, hòa nhập và chia sẻ trọn vẹn kiếp người như chúng ta, không hề có nghĩa là Đức Giêsu cam chịu số phận con người với những đau khổ nhọc nhằn và kể cả cái chết như một định mệnh tất yếu. Trái lại, Đức Giêsu đón nhận kiếp sống con người là để biến đổi, để thăng hoa, để đưa nó đến cuộc sống viên mãn. Chính vì thế, Đức Giêsu không bao giờ loan báo về cuộc khổ nạn của Ngài như một thực tại riêng lẻ, độc lập. Trái lại, Đức Giêsu luôn gắn liền cuộc khổ nạn với sự phục sinh vinh quang: “Con Người sắp bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người. Nhưng ngày thứ ba Người sẽ trỗi dậy”.

Như vậy, Đức Giêsu hôm nay đã muốn gieo vào trong tâm hồn và trong cuộc đời của mỗi người chúng ta niềm hy vọng để trong ánh sáng của niềm hy vọng đó, chúng ta sẽ nhận ra ân phúc ngay giữa những mất mát đau khổ kể cả cái chết; để trong ánh sáng của niềm hy vọng ấy, chúng ta sẽ tìm được bình an ngay giữa những đau thương và thử thách của cuộc đời.

Nếu ngày xưa, người Do Thái có bổn phận nộp thuế cho Đền thờ để lo việc phụng sự nhà Chúa, thì ngày nay trong Giáo Hội cũng có những cách đóng góp hay dâng cúng, đó cũng là một việc thờ phượng và là một sự chia sẻ cho những anh em nghèo khó. Chúng ta hãy nhận ra nét đặc biệt trong nhân cách của Chúa, khi hòa nhập vào nếp sống cụ thể của những người đồng thời với Ngài. Mầu nhiệm nhập thể đòi buộc Chúa phải chia sẻ trọn vẹn đời sống con người và chính Ngài đã thực sự nêu gương về điều đó khi chấp nhận chung chia mọi vui buồn sướng khổ với chúng ta. Ước gì chúng ta cũng biết noi gương Chúa, chấp nhận như hạt lúa mì rơi xuống đất và chết đi để trổ sinh nhiều hoa trái tốt đẹp.

Lạy Chúa, việc Ngài chấp nhận nộp thuế cho đền thờ đã giúp chúng con hiểu rằng, Chúa đã không đòi cho mình bất cứ miễn trừ nào khi cùng chung chia phận người với chúng con. Chớ gì điều đó luôn là lời nhắc nhớ để chúng con không chỉ lo chu toàn phận vụ đối với Chúa, nhưng cũng còn biết thực thi các nghĩa vụ gắn với công ích của con người. Xin cho chúng con biết tìm kiếm và xây dựng những giá trị Nước Trời ngang qua những phận vụ trần thế mà chúng con phải gánh vác cùng với những người anh chị em của mình. Xin canh tân đời sống chúng con để nhờ đó, chúng con biết hết lòng mến yêu Chúa, tận trung với Giáo Hội và biết thiết tha với sứ mạng phục vụ con người.

 

4. Lời bàn

- Trước tiên, chúng ta nên biết rằng, Đền thờ Giêrusalem phải gánh các khoản chi phí rất tốn kém. Mỗi ngày phải dâng lễ vật hai lần, sáng và chiều, mỗi buổi một con chiên một tuổi. Kèm theo một con chiên thì còn có những lễ vật khác như rượu, dầu và bột mì. Hương liệu để đốt hằng ngày đều phải mua và phải pha chế. Những bộ áo lễ đắt tiền của các vị thượng tế vẫn cần phải thay đổi. Tất cả mọi thứ đều cần đến tiền. Thực ra, việc đóng thuế hai chỉ bạc đã có trong dân Do Thái từ lúc họ được tuyển chọn làm dân riêng của Đức Chúa. Thuế đó được coi như tiền chuộc mạng người ta dâng lên Giavê, vì Ngài đã cho họ khỏi chết ở Ai Cập. Về sau, thuế đó thêm ý nghĩa là nhìn nhận Giavê là Chúa tể của Israel, của Đền thờ; đồng thời thừa nhận mình là thần dân thuộc quyền của Đức Chúa nên phải đem thân phục vụ và làm tôi cho Ngài. Bởi đó mỗi người Israel đều coi việc nộp thuế vào đền thờ là nghĩa vụ tự nhiên, rất chính đáng.

- Bởi vậy, căn cứ vào sách Xuất hành chương 30 câu 13, người ta đặt ra lệ cho tất cả mọi người nam Do Thái từ 20 tuổi trở lên đều phải trả một món thuế đền thờ là 2 chỉ bạc. Vào thời ngôn sứ Nơkhemia, vì dân còn nghèo quá nên chỉ trả một phần ba số bạc đó. Món thuế đó tương đương với hai ngày công ở Palestine thời ấy. Trên lý thuyết, món thuế ấy có tính cách bắt buộc, giới chức của đền thờ có quyền khấu trừ tài sản của người nào không chịu nộp thuế.

- Trong trích đoạn này, ta thấy Đức Giêsu chấp nhận nộp thuế cho đền thờ. Các viên chức thu thuế đền thờ đến hỏi Phêrô là thầy của ông có nộp thuế không? Đây là câu hỏi đầy ác ý, họ mong Đức Giêsu không chịu nộp, để họ có cớ tố cáo Ngài. Phêrô trả lời ngay là Đức Giêsu đồng ý nộp thuế. Thời xưa, những quốc gia chiếm được nước khác làm thuộc địa thì ít khi nghĩ tới lợi ích của những dân tộc bị trị. Hơn thế họ còn cho rằng, các dân tộc bị trị có bổn phận phải cung phụng cho họ. Do quan niệm đó mà khi một ông vua bắt ép được dân tộc khác thần phục thì công dân của vua được miễn trừ thuế khóa, còn dân bị trị thì phải nai lưng ra đóng các khoản sưu cao thuế nặng. Theo ý đó, Đức Giêsu dường như muốn nói rằng: “Đức Chúa là vua Israel, chúng ta đây là dân Israel thật, vì chúng ta là công dân của Nước Trời, người ngoài mới phải đóng thuế, còn chúng ta thì được miễn”.

- Câu hỏi thăm dò Phêrô của Đức Giêsu đã cho chúng ta thấy rằng, khi nhà vua đánh thuế dân chúng, thì ông không bắt gia đình hay người nhà mình phải đóng, bởi vì mục đích đánh thuế là để cung ứng cho người nhà của vua. Ở đây, món thuế này là món thuế đóng cho đền thờ, là nhà của Thiên Chúa, mà Đức Giêsu là con Thiên Chúa. Vậy đã là con, sao lại còn phải nộp thuế cho nhà của Cha mình? Tuy nhiên, Đức Giêsu vẫn dạy các môn đệ nên nộp thuế, không phải vì luật bắt buộc mà là vì một bổn phận cao cả hơn. Đức Giêsu nói rằng, Ngài cần nộp thuế “để khỏi làm gai mắt họ”. Nguyên văn Hy Lạp là Skandalon, nghĩa là cái gì làm cho người ta vấp hay té ngã. Như vậy ý Đức Giêsu dường như muốn nói: “Chúng ta cần phải nộp thuế để khỏi làm gương xấu cho kẻ khác, để khỏi làm cho người ta vấp phạm. Chúng ta không chỉ làm bổn phận của chúng ta mà còn phải đi xa hơn bổn phận, để chỉ cho người khác thấy điều họ cần phải làm”. Đức Giêsu không cho phép mình làm điều gì khiến người ta coi nhẹ những nghĩa vụ thường nhật của đời sống. Trong đời sống thường nhật, lắm lúc chúng ta được quyền hưởng những miễn trừ, những chu cấp mà không phải băn khoăn suy nghĩ. Có những điều mà chúng ta có thể yên tâm cho phép mình làm, nhưng chúng ta nên nhớ rằng, đừng bao giờ đòi hỏi một điều gì hay cho phép mình làm điều nào đó có thể làm gương xấu cho kẻ khác.

- Chúng ta cũng nên nhớ rằng, thời gian viết sách Tin Mừng này có lẽ vào khoảng những năm 80 của Công nguyên. Trước đó ít lâu, người Do Thái và các Kitô hữu Do Thái đã phải đối phó với một vấn đề thực tế vô cùng rắc rối. Như chúng ta đã biết, mọi nam nhân Do Thái trên 20 tuổi đều phải đóng thuế cho đền thờ, nhưng đền thờ đã bị san bằng vào năm 70. Sau khi đền thờ bị triệt hạ, Vespasian, hoàng đế Rôma, ra sắc lệnh đem món thuế 2 đồng bạc của dân Do Thái đóng góp cho đền thờ để nộp vào quỹ của đền thờ kính thần Jupiter ở Rôma. Đây quả là một vấn đề nan giải. Người Do Thái cũng như các Kitô hữu Do Thái sẵn sàng nổi dậy chống lại sắc lệnh đó. Một cuộc nổi loạn như vậy lan rộng sẽ rước lấy những hậu quả tai hại, vì nó sẽ bị nghiền nát ngay và người Do Thái cũng như các Kitô hữu sẽ bị mang tiếng xấu là những công dân bất trung, phản loạn. Chính vì lẽ đó, câu chuyện này được ghi vào sách Tin Mừng là để khuyên các Kitô hữu, nhất là Kitô hữu Do Thái, dù rằng các bổn phận công dân có khó chịu đến đâu, họ cũng phải chấp nhận và gánh vác. Câu chuyện này còn dạy chúng ta rằng, Kitô giáo luôn đi đôi với nghĩa vụ công dân. Những Kitô hữu nào tự miễn trừ cho mình những nghĩa vụ của một công dân tốt, thì không chỉ thiếu sót bổn phận của một công dân mà hơn thế nữa, cũng chưa chu toàn bổn phận Kitô hữu của mình.

- Trong sự nghiệp lẫy lừng của mình, Benjamin Franklin, có thể được coi là một trong những khai quốc công thần của Hoa Kỳ đã từng nhận xét: “Trên thế giới này không gì có thể nói là chắc chắn, trừ cái chết và thuế”. Như vậy, dù thế nào đi chăng nữa thì việc nộp thuế luôn gắn liền với nghĩa vụ cũng như quyền lợi của mỗi công dân. Thế nhưng, không ít người lợi dụng kẽ hở của luật pháp liên quan tới các chính sách thuế khóa để trục lợi cá nhân. Dường như người ta không từ bất kỳ một thủ đoạn nào nhằm đạt được mục đích. Con người ta, một khi bị lòng tham làm mờ hai mắt, thì cũng không thể nào phân biệt được đúng sai, phải trái. Câu chuyện liên quan tới việc buôn lậu của công ty Nhật Cường được nhắc tới ở trên cho thấy mặt trái của vấn đề khai nộp thuế. Một số người nghĩ rằng mình xí hết phần khôn của người khác; thế nhưng, sự đời vốn dĩ vẫn là “cao nhân tắc hữu cao nhân trị”. Xenophon từng phát biểu một cách đầy mỉa mai và chua xót thế này: “Những nhà lãnh đạo tồi trì trệ trong lao động nhưng vội vã lao theo lòng tham. Họ thuyết phục người dưới quyền mình rằng những hành vi thiếu trung thực sẽ dẫn đến nhiều của cải”. Trong khi đó, Thánh Phaolô khuyên nhủ chúng ta là phải biết tùng phục chính quyền; và một trong những việc làm nhằm thể hiện điều đó chính là nộp thuế (Rm 13,1-6). Ngài còn nhấn mạnh, việc tùng phục ấy không phải vì sợ bị phạt, mà còn là vì lương tâm. Chính lương tâm phán đoán giá trị luật lệ của nhà nước cùng một chính quyền biết tôn trọng công bình và tự do. Như vậy, người tín hữu được phép chọn lựa thái độ tùng phục hay bất phục tùng, khi xem xét chính quyền có thực sự là người thừa hành của Thiên Chúa hay không. Một khi đã chu toàn nghĩa vụ của một công dân, chúng ta có toàn quyền trong việc sử dụng những tài sản của mình, miễn sao hợp pháp là được. Cựu thủ tướng Vương quốc Anh, bà Margaret Thatcher, từng nhấn mạnh về điều đó khi bà nói: “Mỗi gia đình nên có quyền sử dụng tiền sau khi nộp thuế của mình như mình muốn, chứ không phải như chính phủ định hướng. Chúng ta hãy mở rộng các lựa chọn, mở rộng ý chí để lựa chọn và cơ hội để lựa chọn”. Mong sao mọi người trên thế gian này đều có được một cuộc sống xứng với phẩm giá của họ.

 

Viết Cường, O.P.

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm