Thứ Tư, 08 Tháng Chín, 2021 08:16

GÓC SUY GẪM – MÙA DỊCH COVID-19 - Sinh nhật Đức Trinh Nữ Maria



1. CHUYỆN CHÚNG MÌNH:

 

Chị Jeanne và anh Jean Bodet nhận được phép lạ nhờ cầu nguyện với thánh Giuse

 

Đúng ngày 19/3/2021, lễ thánh Giuse, hai vợ chồng Jeanne và Jean Bodet đón bé Suzanne Joséphine chào đời với niềm vui vỡ òa hạnh phúc, vì sau nhiều lần Jeanne mang thai không thành công. Câu chuyện ước mong có con của hai vợ chồng trẻ là cả một trải nghiệm dài đau khổ, hành hương, khẩn nguyện thánh Giuse và tạ ơn Thiên Chúa.

Năm 2017, ở tuổi 25 Jeanne và Jean Bodet kết hôn sau 3 năm là bạn học ở trường đại học. Một tháng sau đám cưới, Jeanne mang thai. Cảm giác vui mừng, ngạc nhiên đen xen đến với hai vợ chồng. Thực ra, họ không muốn có con sớm, nhưng xác tín đây là hồng ân của Chúa nên hai vợ chồng chia sẻ tin này cho người thân. Nhưng thai nhi không được khỏe và Jeanne bị sẩy thai. Cả hai đều buồn, nhưng họ không khép kín cõi lòng.

Bảy tháng sau khi sẩy thai, Jeanne lại mang thai. Lần này, hai vợ chồng cố gắng gìn giữ và được bác sĩ theo dõi thường xuyên, nhưng một tháng sau, họ cũng bị mất người con thứ hai. Lần này, đối với họ thật khó khăn khi phải đối diện với sự thật. Những câu hỏi đau lòng bắt đầu đến: “Tại sao lại là chúng tôi? Chúng tôi đã làm tất cả mọi thứ, và không có gì sai cả”.

Lần thứ ba, Jeanne và Jean tiếp tục chào đón sự sống trở lại, nhưng thai này cũng kết thúc. Sự mệt mỏi về thể chất giờ đây lại thêm mệt mỏi về tinh thần, tâm lý. Tuy nhiên, bất chấp mọi thứ, đôi bạn vẫn muốn tiếp tục đón chào sự sống mới.

Vào tháng 5/2020, Jeanne lại mang thai và đau khổ cũng nối tiếp thời gian ngắn sau đó. Bạn bè, người thân an ủi hai vợ chồng. Một trong số đó mời Jeanne và Jean đi hành hương đến Cotignac, nơi có nhà thờ thánh Giuse và theo truyền thống thánh Giuse hiện ra ở đây. Đôi vợ chồng nhận được lời động viên từ người bạn: “Các bạn sẽ có một ngày cuối tuần ở miền Nam và các bạn có thể phó thác những đau khổ cho thánh Giuse”.

Những ngày hành hương đã để lại dấu ấn sâu sắc cho hai vợ chồng. Jean nói: “Trong suốt cuộc hành trình, tôi đã rơi nước mắt, và trút bỏ mọi gánh nặng”. Còn Jeanne thì phong cảnh nơi hành hương đã làm cho cô xúc động. Jeanne nói: “Tôi cảm thấy được an ủi, cảm nhận rằng tôi có thể phó thác tất cả những nỗi đau của tôi cho Đức Mẹ và thánh Giuse”.

Trở về nhà sau cuộc hành hương, cả hai cảm nhận được ơn biến đổi. Hai vợ chồng tự nhủ sẽ tiếp tục phó thác mọi đau khổ, những hiểu lầm cho thánh Giuse. Cả hai chia sẻ: “Chúng tôi lặp đi lặp lại lời cầu nguyện của chúng tôi. Mỗi tối chúng tôi cầu nguyện với chuỗi mân côi, và dâng những ý chỉ. Chúng tôi xin các thánh bổn mạng và tất cả các vị thánh đã đi qua lịch sử cuộc đời chúng tôi chuyển cầu cho chúng tôi”. Họ cũng không quên thêm vào ý chỉ cầu nguyện mỗi ngày: Qua lời bầu cử của thánh Giuse xin Chúa ban cho họ có con.

Vài tuần sau đó, Jeanne mang thai. Mọi người đều vui mừng, nhưng có một câu hỏi nặng nề đến với họ: “Lần này sẽ kéo dài bao lâu?”. Đúng như lo sợ, Jeanne đã có những biểu hiện không tốt trong khi mang thai. Cô phải đến bệnh viện để bác sĩ chăm sóc.

Mùa hè sắp kết thúc và hai vợ chồng trở về ngoại ô Paris. Họ tiếp tục cầu nguyện với thánh Giuse. Jean nói: Chúng tôi đã thay đổi cụm từ trong lời cầu nguyện “xin cho chúng con ơn được cộng tác trong việc trao ban hồng ân sự sống, để nhờ đó chúng con có thể nhìn thấy một sự sống mới chào đời được ban cho chúng con”, bằng cụm từ “xin chỉ cho chúng con phải làm gì trong giây phút hiện tại”.

Do sức khỏe yếu Jeanne không thể đến nhà thờ, nhưng Jean vẫn thường xuyên tham dự Thánh lễ trực tuyến và gia tăng cầu nguyện.

Ở tháng thứ năm, Jeanne phải nhập viện vì nguy cơ sinh non, và bất chấp khoảng cách, hai vợ chồng vẫn hiệp thông cầu nguyện. Tháng 12, lễ Giáng sinh, ngày cuối năm. Cả hai nhớ lại: “Chúng tôi không phải là người sắp xếp mọi thứ: Chúng tôi biết rằng đứa trẻ này thực sự là một món quà của Chúa”.

Jeanne được chuyển đến một khu hộ sinh khác, cô sụt cân nhưng ngày tháng trôi qua và mỗi tháng kết thúc là một sự chiến thắng. Cô được phép về nhà. Ngày 13/3, thai nhi bắt đầu có dấu hiệu chuyển dạ. Và đúng ngày 19/3/2021, lễ thánh Giuse, Suzanne Joséphine chào đời. Nhờ chị gái và mẹ, hai vợ chồng nhận ra rằng ngày 19/6, chính xác là chín tháng trước khi Suzanne chào đời, họ đã gửi lá thư tới Cotignac cho thánh Giuse.

Chúa đã nhậm lời cầu nguyện của hai vợ chồng, và hai vợ chồng xác tín rằng: “Chúng tôi đã lãnh nhận hồng ân và một sứ vụ, đó là làm cho điều kỳ diệu này đơm hoa kết trái. Chúng tôi không sở hữu hồng ân này. Đó là lịch sử của chúng tôi, nhưng trên hết là lịch sử của Chúa, về hành động của Người trong cuộc sống của chúng tôi, và cho tất cả mọi người. Chạm đến mọi người, chỉ đơn giản là vào những dịp khác nhau”.

Ngọc Yến - Vatican News

(Nguồn: https://www.vaticannews.va/vi/church/news/2021-09/jeanne-jean-bode-phep-la-thanh-giuse.html)

 


2. NHỮNG CON SỐ BIẾT NÓI

 

Stt

Quốc gia

Được chữa khỏi

Tử vong

Tổng số

1

Pakistan

1.067.589

26.330

1.186.234

2

Algeria

135.694

5.471

198.645

3

Malawi

49.681

2.225

60.898

4

Việt Nam

311.710

13.701

550.943

 

 

 

 

 

Thế giới

199.110.028

4.597.045

222.545.479

Cập nhật lúc 6g10, ngày 8.9.2021




3. KHUÔN VÀNG THƯỚC NGỌC (Mt 1,18-23; thứ Tư, tuần XXIII Thường niên – Sinh nhật Đức Trinh Nữ Maria, lễ kính)

 

Thánh lễ mừng Sinh nhật Đức Trinh Nữ Maria xuất phát từ Giáo hội Đông Phương, có lẽ từ thánh lễ cung hiến thánh đường dâng kính thánh Anna tại Giêrusalem; địa điểm của ngôi thánh đường này được các tín hữu tin rằng đó là nơi sanh Đức Mẹ. Theo truyền thuyết khác thì Đức Maria được sinh tại Galilê. Vào cuối thế kỷ thứ VII, bên Giáo hội Tây Phương, Đức Giáo hoàng Sergius (687-701) xác nhận có 4 thánh lễ được cử hành trong năm để kính Đức Trinh Nữ Maria bao gồm: Lễ Truyền Tin, lễ Hồn xác về trời, lễ Sinh nhật và lễ “Gặp gỡ” (tức lễ nến ngày 2.2) Sự kiện cụ thể là thánh lễ này được cử hành long trong phụng vụ, cho chúng ta thấy rõ, các tín hữu thời xa xưa đã xác tín rằng, Đức Maria khi được sinh ra đời không vương chút tội nào.

Trình thuật truyền tin cho ông Giuse giúp chúng ta hiểu rằng: Đức Maria mang thai là do quyền năng Thánh Thần để ứng nghiệm sấm ngôn về Đấng Emmanuel; còn ông Giuse, người trong dòng dõi Đavít, là chồng của Đức Maria, có nhiệm vụ nhận người con do Đức Maria sinh ra làm con của mình qua việc đặt tên cho con trẻ; nhờ thế Đức Giêsu thuộc về dòng dõi vua Đavít.

 

 

Hôm nay, toàn thể Giáo hội long trọng mừng lễ sinh nhật Đức Maria. Đây là ngày của niềm vui và hy vọng, không chỉ cho các Kitô hữu mà còn cho toàn thể nhân loại; bởi vì, ngày sinh nhật của Đức Mẹ được ví như bình minh báo hiệu Mặt Trời Công Chính xuất hiện là Đức Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại.

Thật thế, cũng như bình minh báo hiệu một ngày mới, báo hiệu một sức sống mới cho mọi sinh vật trên địa cầu, thì việc Đức Maria sinh ra cũng báo hiệu một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của ơn cứu độ, kỷ nguyên của sự sống mà ông bà nguyên tổ của chúng ta đã đánh mất, nay được phục hồi một cách vĩnh viễn.

Bởi đó, ngày sinh nhật Đức Maria phải là ngày của niềm vui và hy vọng. Không hy vọng sao được khi lời hứa mà nhân loại chờ đợi suốt bao năm, nay đã được thực hiện; lời hứa mà Thiên Chúa đã công bố khi Ngài phán với con rắn trong vườn địa đàng: “Ta sẽ đặt mối thù giữa ngươi và người phụ nữ, giữa dòng giống ngươi và dòng giống người phụ nữ. Dòng giống nó sẽ đạp nát đầu ngươi, còn ngươi sẽ rình cắn lại gót chân” ( Stk 3, 15).

Như thế, không kể sinh nhật của Đức Giêsu và của thánh Gioan Tẩy giả, Giáo hội không bao giờ mừng sinh nhật của các thánh, mà chỉ mừng sinh nhật của Mẹ Maria, vì ngày sinh nhật của con cháu Adam và Evà là ngày u buồn bởi mang trong mình án phạt của nguyên tổ. Trái lại, ngày sinh nhật của thánh Gioan tẩy giả và của Đức Maria là ngày của niềm vui và hy vọng, bởi vì thánh Gioan đã được thánh hóa ngay từ trong lòng mẹ, còn Đức Maria là người đã sinh ra Đấng Cứu Thế mà nhân loại hằng ngóng chờ.

Mừng lễ sinh nhật Đức Maria hôm nay, chúng ta được mời gọi xác tín rằng, Thiên Chúa là Đấng luôn luôn thành tín trong lời hứa cứu độ con người, cho dẫu con người không ngừng phản bội lại giao ước đã ký kết với Ngài. Bởi đó, nếu có ai đó không được cứu độ thì không phải vì Thiên Chúa không thành tín trong lời hứa, nhưng vì chúng ta là những tín hữu, lại không trung tín sống những cam kết của Bí tích Rửa tội; và còn vì chúng ta đã không sống theo tiếng nói của lương tâm ngay thẳng vốn được coi là tiếng Chúa, luôn vang vọng trong tâm trí mỗi người từng giờ từng phút.

Lạy Chúa, trong ngày mừng sinh nhật của Đức Trinh Nữ Maria vinh hiển, xin cho chúng con cũng được hợp đoàn cùng muôn vàn thần thánh trên trời dâng lời ca tụng Chúa. Chúa đã đoái thương chọn Đức Maria làm Thánh Mẫu, thì xin cho chúng con cũng biết nhận ngài làm mẹ và hết lòng hiếu thảo với người. Xin cho chúng con biết noi gương Đức Mẹ mà mặc lấy tinh thần phó thác trong khi thi hành nhiệm vụ Chúa giao. Xin nâng đỡ để chúng con luôn biết nói lời xin vâng trong việc thực thi những lời Chúa truyền dạy. Và, xin cho chúng con cũng biết chung lời với Mẹ, luôn cất cao bài Magnificat để ngợi khen cùng chúc tụng Danh Chúa đến muôn đời.

 

4. LỜI BÀN

- Về vấn đề thành hôn, dịch sát là đính hôn, theo truyền thống hôn nhân của người Do Thái, thì việc đính hôn coi như đã thành vợ chồng trước mặt pháp luật, còn việc rước dâu thường cách xa lễ đính hôn, có khi cả năm trời. Thường thì hai người không chung sống trước khi rước dâu, nhưng giả như có con với nhau trong giai đoạn này thì đứa con vẫn là con hợp pháp. Hai điểm khó giải thích trong đoạn này là: sự công chính của ông Giuse ở chỗ nào và ông Giuse có biết việc Đức Maria thụ thai bởi quyền năng Thánh Thần trước khi thiên thần báo tin không? Cách giải thích vấn đề thứ nhất tuỳ thuộc cách giải thích vấn đề sau. Lời thiên thần nói với ông Giuse có thể hiểu là một lời báo cho biết sự thật về nguồn gốc bào thai trong lòng Đức Maria, hoặc là một lời xác nhận điều ông Giuse đã biết. Nếu nhờ lời thiên thần báo tin ông Giuse mới biết sự thật, thì sự công chính của ông là ở chỗ không nhận là của mình cái gì không thuộc về mình, đồng thời tôn trọng điều ông không hiểu nơi Đức Maria và chọn cách âm thầm bỏ đi. Còn nếu trước khi thiên thần báo tin ông đã biết sự thật, thì sự công chính của ông là tôn trọng mầu nhiệm Thiên Chúa đã thực hiện nơi Đức Maria. Dù sao thì lời thiên thần nói với ông Giuse chính là nói với chúng ta để giải thích nguồn gốc và sứ mạng của Đức Giêsu: Ngài từ Thiên Chúa mà đến, sinh làm người trong dòng dõi vua Đavít để cứu dân Ngài khỏi tội lỗi.

- Đối với cách suy nghĩ của người Tây phương, những mối liên hệ trong đoạn Tin Mừng này thật rắc rối. Trước hết, Giuse được nói là hứa hôn với Maria, sau đó lại nói Giuse định âm thầm ly dị nàng, và kế đó Maria lại được gọi là vợ Giuse. Những mối liên hệ này tiêu biểu cho thể thức hôn nhân thông thường của người Do Thái. Trong hôn nhân Do Thái có ba bước.

  • Ước hẹn. Khi đôi bạn còn nhỏ, chưa biết nhau, sự hứa hẹn thường do cha mẹ hoặc do người chuyên làm mai mối lo liệu. Hôn nhân được xem là một bước vô cùng quan trọng nên không thể tùy thuộc đam mê và tình cảm của con người được. Nhìn chung, hôn nhân trong xã hội Do Thái thời bấy giờ gần giống với kiểu cha mẹ đặt đâu con ngồi đó. Các tương quan thông gia thường dựa trên sự quen biết của cha mẹ. Đôi khi, người ta tin tưởng vào những ông tơ bà nguyệt được coi là “mát tay” lo liệu hôn sự cho con cái.

  • Đính hôn. Đính hôn tức là xác nhận sự hứa hẹn khi trước. Vào lúc này, sự hứa hẹn do cha mẹ đôi bên chủ xướng hoặc do người mai mối thực hiện có thể bị xóa bỏ, nếu người nữ không bằng lòng khi cô bé lên 12 tuổi trọn. Nhưng một khi đã đính hôn thì đôi bên bị ràng buộc với nhau cách tuyệt đối. Thời gian đính hôn kéo dài chừng một năm. Trong đó, đôi bạn được kể là vợ chồng cho dù họ không có những quyền của chồng hoặc vợ. Nếu muốn chấm dứt thì chỉ có cách duy nhất là ly dị. Trong luật Do Thái, chúng ta thường thấy câu nói hơi lạ này: Người con gái có vị hôn phu chết trong thời gian đính hôn thì được gọi là “trinh nữ góa”. Maria và Giuse đang ở trong giai đoạn này, tức là họ đã đính hôn. Nếu Giuse muốn chấm dứt thì không thể làm gì khác hơn là ly dị vì theo luật thì trong năm đó, Maria vẫn được kể là vợ của ông.

  • Giai đoạn thứ ba là hôn nhân chính thức được cử hành vào cuối năm đính hôn. Nếu chúng ta nhớ những phong tục cưới gả thông thường của người Do Thái thì mối quan hệ trong đoạn trích này hoàn toàn là bình thường và rõ ràng.

- Chính trong giai đoạn này, Giuse được báo tin là Maria đã mang thai do bởi Thánh Thần và ông phải đặt tên con trai đó là Giêsu. Trong tiếng Hy Lạp, Giêsu tương đương với tên Do Thái là Joshua (Giôsuê). Giôsuê có nghĩa là “Đức Chúa là sự cứu rỗi”. Đức Giêsu được sinh ra để làm Đấng Cứu Thế hơn là để làm vua. Ngài đã bước vào thế gian không phải vì Ngài nhưng vì loài người và để cứu chuộc chúng ta.

- Đoạn sách này cho chúng ta biết Đức Giêsu được sinh ra do tác động của Chúa Thánh Thần và cũng cho chúng ta biết về sự “sinh hạ đồng trinh”. Đây là một điểm giáo lý. Điều chúng ta quan tâm ở đây là tìm hiểu sự “sinh hạ đồng trinh” có nghĩa là gì với chúng ta. Lần đầu tiên khi đọc đoạn sách thánh này, chúng ta sẽ thấy, thật ra nó không nhấn mạnh ở điểm Đức Giêsu do một trinh nữ sinh ra cho bằng sự giáng sinh của Ngài là do công việc của Chúa Thánh Thần. Đó cũng là điều mà thánh Mátthêu muốn nói cho chúng ta. Theo quan niệm của người Do Thái, Thánh Thần có những chức năng nhất định. Chúng ta không thể đem vào đoạn sách này ý niệm đầy đủ của chúng ta về Chúa Thánh Thần, vì đó là những điều mà ngay cả Giuse cũng không hiểu biết hết. Chúng ta phải giải thích theo quan niệm của người Do Thái về Thánh Thần, vì đó là ý niệm mà Giuse buộc phải xem sứ điệp này liên quan đến những điều ông đã biết trước đó.

  • Theo quan niệm Do Thái, Thánh Thần là ngôi vị đem chân lý đến cho con người. Chính Thánh Thần dạy các ngôn sứ điều họ phải nói; chính Thánh Thần trải qua các thời đại và các thế hệ đã đem chân lý của Thiên Chúa đến với loài người. Cũng vậy, Đức Giêsu là Đấng đem chân lý của Thiên Chúa đến với chúng ta. Trước khi Đức Giêsu đến trần gian, người đời chỉ có một ý niệm mơ hồ và thường sai lạc về Thiên Chúa, cùng lắm là họ chỉ có thể đoán chừng và dò dẫm. Nhưng Đức Giêsu đã phán: “Ai thấy Ta tức là thấy Chúa Cha” (Ga 14.9). Trong Đức Giêsu, chúng ta thấy tình yêu, sự thương xót, tấm lòng tìm kiếm, sự thánh thiện của Thiên Chúa như chưa từng thấy ở nơi nào trong thế gian. Khi Đức Giêsu đến thì giai đoạn đoán mò đã qua và giai đoạn biết chắc đã đến. Trước khi Đức Giêsu đến, con người không biết sự thiện chân chính là gì, nhưng trong Đức Giêsu, chúng ta mới thấy được thế nào là con người chân chính, sự thiện chân chính và sự vâng phục chân chính Thánh ý Thiên Chúa. Đức Giêsu đã đến để chúng ta biết sự thật về Thiên Chúa và về loài người.

  • Người Do Thái tin rằng, Thánh Thần không những đem chân lý của Thiên Chúa đến với loài người mà còn làm cho loài người có thể nhận ra chân lý đó. Cũng vậy, Đức Giêsu mở mắt cho con người thấy chân lý. Con người bị mù bởi chính sự ngu dốt của mình và họ bị thành kiến sai lầm dẫn lối. Tội lỗi và đam mê làm nhãn quan và tâm trí họ ra u tối. Đức Giêsu có thể mở mắt cho chúng ta thấy được chân lý một cách vẹn toàn. Đời sống cũng hoàn toàn khác hẳn khi Đức Giêsu dạy chúng ta biết cách nhìn đời, nhìn cuộc sống bằng một nhãn quan mới. Khi Đức Giêsu ngự vào lòng, chúng ta sẽ thấy sự việc hoàn toàn đổi khác, vì Ngài mở mắt để chúng ta có thể thấy mọi thứ một cách xác thực nhất.

  • Người Do Thái đặc biệt liên kết Thánh Thần của Thiên Chúa với công cuộc tạo dựng: chính nhờ Thánh Thần mà Thiên Chúa hoàn thành công việc sáng tạo. Ban đầu, Thánh Thần vận hành trên mặt nước và trên cảnh hỗn mang để tạo thành thế giới (St 1,2). Cũng vậy, Đức Giêsu có quyền năng sáng tạo và quyền năng ban sự sống của Chúa cho thế gian. Trong Đức Giêsu, chính quyền năng và sự sống của Chúa đã đi vào trong thế gian. Có thể nói rằng, chúng ta không sống cho đến chừng nào Đức Giêsu chưa ngự vào trong đời sống chúng ta.

  • Người Do Thái đặc biệt liên kết Thánh Thần không những với việc tạo thành nhưng còn với công việc tái tạo nữa. Khi con người chết trong tội lỗi, trong sự mê muội thì Thần Khí Chúa có thể khiến họ được sống lại. Cũng vậy, trong Đức Giêsu, Ngài có quyền năng thay đổi và tái tạo sự sống. Ngài có thể khiến linh hồn chết trong tội được sống lại. Ngài có thể phục hưng những lý tưởng đã chết; Ngài có thể khiến ý hướng ngay lành đã hư mất được mạnh mẽ trở lại. Ngài cũng có thể đổi mới và tái tạo cuộc sống khi nó đã mất tất cả ý nghĩa.

- “Chúng tôi không phải là người sắp xếp mọi thứ: Chúng tôi biết rằng đứa trẻ này thực sự là một món quà của Chúa”. Không còn nghi ngờ gì nữa, đây chính là một thứ cảm thức đức tin chân thật và đầy xác tín. Đôi vợ chồng trẻ này đã đón nhận đứa con của mình không chỉ như là kết quả tất yếu của một tình yêu phu phụ nhưng như là một ân ban, một món quà quý giá từ Thiên Chúa. Những nỗ lực sau bao thất bại đã được đền đáp một cách cân xứng. Những lời nguyện cầu chân thành, liên lỉ đã được Thiên Chúa đoái nghe. Những thất vọng, chán chường được thay bởi những dòng lệ chứa chan niềm hạnh phúc. Những điều này chắc hẳn chẳng còn xa lạ gì đối với nhiều bậc làm cha làm mẹ. Thế nhưng, niềm vui mà cặp vợ chồng Jeanne và Jean Bodet có được thì chẳng phải ai cũng từng nếm trải. Đó thực sự là một thứ hạnh phúc tròn đầy, viên mãn được chính Thiên Chúa se duyên. Phụng vụ của Giáo hội hôm nay cũng đưa chúng ta vào hưởng nếm sự ngọt ngào của một tình yêu như thế khi nhắc lại biến cố Đức Mẹ chào đời.

- Thánh Augustinô đã nối kết cuộc sinh hạ của Mẹ Maria với công trình cứu chuộc của Đức Giêsu. Điều đó cũng có nghĩa rằng, nếu nhân loại này hân hoan bao nhiêu khi đón nhận ơn cứu độ từ Con Chúa, thì chúng ta cũng hoan hỉ bấy nhiêu khi chiêm ngắm một thụ tạo tuyệt mỹ đã được Chúa chọn làm Mẹ của Ngài. Thánh Augustinô thật có lý khi ngài nói: “Trái đất hãy vui mừng và bừng sáng vì việc sinh hạ của Đức Maria. Ngài là bông hoa trong cánh đồng mà từ đó đã nảy sinh hoa huệ quý nhất vùng châu thổ. Qua sự sinh hạ của ngài, bản chất mà chúng ta thừa hưởng từ cha mẹ đã thay đổi”. Mặc dù Kinh Thánh không đề cập gì đến việc sinh hạ của Đức Maria; thế nhưng khi câu chuyện này được ghi lại trong sách Tiền tin mừng theo thánh Giacôbê thì chắc hẳn, tác giả đã muốn cho thấy sự hiện diện quan trọng của Thiên Chúa trong cuộc đời Đức Maria ngay từ lúc khởi đầu. Mừng lễ sinh nhật Đức Mẹ, chúng ta cũng có thể xem việc sinh hạ của mỗi người là dấu chứng cho tình yêu và niềm hy vọng của Thiên Chúa trước mặt thế gian. Bởi vì, mỗi chúng ta đều có thể trở nên máng chuyển tình yêu và bình an của Thiên Chúa đến cho nhân loại này.

 

 

Viết Cường, O.P.

 

 

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm