Thứ Năm, 30 Tháng Bảy, 2015 15:22

“Hãy hiểu biết, bảo tồn và phát huy nền văn hóa Kitô giáo”

Ngày 1.8.2015, Ban Văn hóa TGP.TPHCM  tổ chức trưng bày “Đồ thờ Công giáo cổ và xưa” tại nhà Truyền thống giáo phận. Nhân sự kiện này, linh mục Giuse Nguyễn Hữu Triết, Trưởng ban Văn hóa GP TPHCM, đã dành cho báo Công giáo và Dân tộc (CGvDT)  cuộc trao đổi về một số khía cạnh liên quan.

Linh mục Giuse Nguyễn Hữu Triết

- Xin cha cho biết đôi nét về cuộc trưng bày này ?

Kể từ 2012, hằng năm Nhà Truyền thống TGP.TPHCM vẫn tổ chức các cuộc trưng bày những hiện vật văn hóa vật thể và phi vật thể thuộc hai nền văn hóa dân tộc và văn hóa Kitô giáo. Đây cũng là mục tiêu của Nhà Truyền thống là sưu tầm, lưu giữ, bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc và Kitô giáo.

Đã có các cuộc trưng bày về “Những đóng góp của Giáo hội Công giáo cho nền văn hóa dân tộc” qua những tác phẩm văn hóa Hán Nôm và Quốc ngữ từ thuở ban đầu khi đức tin được đón nhận trên quê hương đất nước Việt Nam thân yêu; hai cuộc trưng bày đèn cổ “Ánh sáng muôn dân”; một cuộc trưng bày Tem Công giáo của nhà sưu tập Phêrô Nguyễn Chí Từ Uyên với chủ đề “Đức tin Kitô giáo”; một cuộc trưng bày “Văn hóa liên tôn” do ban Mục vụ Liên tôn TGP.TPHCM tổ chức  và một cuộc trưng bày “Chum chóe cổ”.  Lần này là cuộc trưng bày “Đồ thờ Công giáo cổ và xưa”. Bên cạnh là cuộc trưng bày hội họa của nhóm họa sĩ Công giáo gồm 9 họa sĩ trong đó có 3 nữ tu dưới sự điều hành của nữ họa sĩ Maria Bùi Thị Thắm với chủ đề “Cuộc đời dâng hiến” theo tinh thần “Năm tân Phúc Âm hóa các cộng đoàn sống đời thánh hiến”. Về cuộc trưng bày “Đồ thờ Công giáo cổ và xưa” với hơn 200 hiện vật được dùng trong phụng vụ và á phụng vụ Công giáo. Trước hết và chủ lực là các tượng ảnh Chúa, Đức Mẹ và Các Thánh, trong ngành khảo cổ người ta phân biệt các hiện vật cổ tức là đã có 100 năm tuổi trở lên (theo tiêu chuẩn Việt Nam). Hiện vật dưới 100 năm được xếp loại “xưa”.

Những hiện vật tại cuộc trưng bày

Các ảnh tượng được làm bằng chất liệu đa dạng như bạc, đồng, các hợp kim, antimoine, gang, sắt, pháp lam (đồng tráng men), thủy tinh, đá, cẩm thạch, đất nung, thạch cao, gỗ…; đặc biệt có loại thủy tinh mờ, tiếng chuyên môn gọi là “Etling” rất đẹp, rất quý và rất đắt. Đa số hiện vật có niên đại từ thế kỷ 18, 19 sang đầu thế kỷ 20 và có nguồn gốc từ Việt Nam, Âu châu (nhất là Pháp), Mỹ châu, Á châu.

- Ngoài tính chất “cổ và xưa”, tính mỹ thuật thì sao?

Trong bộ sưu tập, có những hiện vật gồm tượng và ảnh do những nghệ nhân Công giáo nổi tiếng Việt Nam thực hiện từ đầu thế kỷ 20. Về tượng gỗ, có các tác phẩm của Phó Gia ở địa phận Bùi Chu, đa số tạc theo phong cách Âu châu. Về đất nung, có các tác phẩm của Phó Túc ở địa phận Phát Diệm. Ông cũng là tác giả các tượng Chúa Giêsu là Vua cao hơn 10m ở giữa hồ, tượng Thánh Phêrô, Phaolô trước Nhà thờ đá Phát Diệm đắp năm 1925; các tượng đất nung ở dòng khổ tu Nho Quan …

Những hiện vật mang tính hội nhập văn hóa rất xưa và rất đẹp như hai bộ bát bửu và thánh giá nến cao bằng gỗ vàng tâm sơn son thếp vàng. Ngoài ra, còn có tủ thờ gỗ trắc, cẩn xà cừ các hình ảnh Công giáo cực kỳ tinh vi của bà Lành, con gái ông Hội đồng ở Bình Dương tặng cho cha Phaolô Nguyễn Xuân Đĩnh và được ngài nhường lại cho Nhà Truyền thống. Đây là một tủ thờ Công giáo cẩn ốc phong cách thuần Việt duy nhất và quý nhất tại Việt Nam, khó mà tìm được cái thứ hai. Hay như các thánh giá gỗ quý, cẩn ốc thật tinh vi và cả  những hộp gỗ trắc cẩn ốc hình thánh giá cho thấy đây là đồ dùng trong một gia đình Công giáo khá giả ngày xưa.

 

Trong dòng hội nhập văn hóa, Nhà Truyền thống còn một cỗ kiệu Kỳ An (kiệu Thánh Thể) bằng gỗ vàng tâm sơn son thếp vàng cực kỳ tinh xảo, hơn 100 năm tuổi được mua từ miền Hải Hậu, Bùi Chu, nay bị thất lạc, không biết nằm ở đâu. Đây là tài sản của Nhà Truyền thống do chính tôi mua tặng, không phải của ai khác hay của một tổ chức nào. Thật đáng tiếc ! Đặc biệt có bức tượng thuộc dòng gốm Biên Hòa cao khoảng 50cm, với đường nét thanh tú và mang tính hội nhập cao: Đức Mẹ mặc áo dài giống áo dài của phụ nữ Chăm (không phải váy Âu Mỹ), choàng khăn phủ từ đầu tới chân, hai tay nâng Chúa Hài Đồng lên khỏi đầu, dựa theo ý tưởng kinh Lạy Nữ Vương : “Xin tỏ cho chúng con được thấy Chúa Giêsu” (Et Jesum benedictum fructum ventris tui nobis post hoc exilium ostende). Mẫu tượng này ban đầu là của họa sư Lê Văn Đệ (họa sĩ xuất sắc của trường Mỹ Thuật Đông Dương, trở lại đạo Công giáo), sáng tác vào khoảng thập niên 1940 thế kỷ 20. Sau này nhiều lớp học trò làm lại, và đây chính là mẫu gợi hứng cho tượng đài Đức Mẹ Bãi Dâu.

Trong cuộc trưng bày này, có sự đóng góp của anh Antôn Nguyễn Ngọc Long, một tín hữu giáo xứ Nam Thái, hội viên Hội Cổ vật TPHCM. Anh sưu tập được ba tủ nhỏ các ảnh tượng và đồ thờ Công giáo cổ và xưa, cỡ vừa và nhỏ.

 

- Đâu là điểm nhấn của cuộc trưng bày này, thưa cha ?

Điểm nhấn là nét đẹp văn hóa Kitô giáo đến từ nghệ thuật điêu khắc, nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật sử dụng đường nét, chất liệu, mau sắc để thể hiện sự thánh thiện của Chúa, Đức Mẹ và các Thánh làm thành bộ môn riêng biệt, được gọi là nghệ thuật thánh, nhất là sự tinh vi, tế nhị trong văn hóa hội nhập (Kitô giáo hòa nhập với dân tộc).

- Qua cuộc trưng bày này, cha  muốn gởi gắm điều gì ?

Mọi người hãy hiểu biết, bảo tồn và phát huy nền văn hóa Kitô giáo, vì việc tôn kính ảnh tượng giúp khơi dậy, duy trì, củng cố và phát huy đức tin. Trong công thức làm phép ảnh tượng, chúng ta nghe đọc: “Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa không chê bác việc tạc vẽ ảnh tượng Chúa, Đức Mẹ và các Thánh của Chúa, để mỗi lần con mắt thể xác chiêm ngưỡng những ảnh tượng đó thì mỗi lần chúng con cũng dùng con mắt ký ức để suy niệm các hành vi và đời sống thánh thiện của các Đấng mà bắt chước. Chúng con nài xin Chúa làm phép và thánh hóa các ảnh tượng này để tôn kính và tưởng niệm đến Con Một Chúa là Đức Giêsu Kitô, Đức Trinh Nữ Maria Mẹ Chúa Giêsu và các Thánh … Xin đoái thương ban cho những ai siêng năng tôn sùng cung kính trước những ảnh tượng này thì nhờ công nghiệp và sự che chở của các Đấng ấy, họ được Chúa ban ơn Thánh ở đời này và vinh hiển vĩnh cửu ở đời sau. Nhờ Đức Kitô Chúa chúng con – Amen”.

 

Lời nguyện làm phép của Hội Thánh nói lên tất cả công dụng, hiệu quả của việc tôn kính ảnh tượng Công giáo đối với đời sống đức tin của tín hữu. Đây là thông điệp chính mà cuộc trưng bày muốn gởi tới mọi người.

- Phải mất bao lâu mới quy tụ được bộ sưu tập, thưa cha?

Mất hơn 20 năm, rong ruổi từ Nam ra Bắc và cả những chuyến đi nước ngoài nữa. Xin cảm ơn sự cảm thông, tinh thần chung tay xây dựng Nhà Truyền thống của mọi người, mọi nơi, cụ thể là các giáo xứ Đức Bà Sàigòn, Chợ Đũi, Hạnh Thông Tây, Thủ Đức, Thái Hòa, Phổ Hiền, Mẫu Tâm (Chí Hòa), Thánh Phanxicô Xaviê, Ngã Sáu (Chợ Lớn), Thủ Thiêm, Thị Nghè, Vĩnh Hòa … đã đóng góp một số hiện vật.

 

- Theo cha, đồ thờ Công giáo có ý nghĩa thế nào đối với đời sống Kitô giáo tại Việt Nam hiện nay?

Xưa cũng như nay, đồ thờ phượng Công giáo luôn giữ vai trò quan trọng trong phụng vụ của Hội Thánh và trong đời sống đạo hằng ngày của tín hữu. Định luật tâm lý “nghe – nhìn” thời đại nào cũng đúng, cũng cần áp dụng. Người ta vẫn nói “Trăm nghe không bằng một thấy” – Một nam tu sĩ Việt Nam đang tu ở Trung Quốc, có lần đến với tôi nài nhượng lại mấy tượng ngà quý, cho biết bên Trung Quốc vấn đề truyền giáo còn khó khăn, những ảnh tượng cổ đem về đặt trong một phòng trưng bày, các sinh viên ngoại đạo tới xem, nhân cơ hội tiếp xúc này, cắt nghĩa về Chúa, về đạo cho họ, như thế không vi phạm lỗi “truyền giáo bất hợp pháp”. Tượng ảnh cổ trở thành phương tiện truyền giáo tại những nơi còn khó khăn về tôn giáo, thật là tuyệt vời !

- Xin cám ơn cha về những chia sẻ.

Trung Nhân thực hiện

 

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm