Thứ Ba, 25 Tháng Giêng, 2022 14:13

Lắng nghe dấu chỉ thời đại: Nhịp bước người di dân

 

Trong tác phẩm do điêu khắc gia nổi tiếng Timothy Schmalz người Canada thực hiện, nhiều người di cư đứng cạnh nhau, vai kề vai, chen chúc trên một chiếc bè. Giữa đám người, những cánh thiên thần nổi lên ở trung tâm, nói đến sự hiện diện của Ðấng Thánh ở giữa họ: “Anh em đừng quên tỏ lòng hiếu khách, vì nhờ vậy, có những người đã được tiếp đón các thiên thần mà không biết”. Trong buổi khánh thành tượng đài, Ðức Thánh Cha Phanxicô nói: “Tác phẩm điêu khắc này, làm bằng đồng và đất sét, mô tả một nhóm người di cư từ các nền văn hóa khác nhau và thuộc các giai đoạn lịch sử khác nhau. Tôi muốn tác phẩm được đặt tại quảng trường Thánh Phêrô, để nhắc nhở mọi người về thách đố sứ mạng của việc đón tiếp”.

 

Di dân là người dân đi từ nơi này đến lập nghiệp nơi khác - từ nông thôn ra thành thị; từ nước này sang nước khác - hầu tìm chỗ ở phù hợp hơn. Ðó là quyền mưu cầu hạnh phúc. Nguyên nhân cơ bản của việc di dân là kinh tế, nhu cầu thị trường lao động. Trong thời kỳ quá độ, người di dân rất nhiêu khê, đoạn trường. Nhưng phía sau di dân là gì? Tôi xin chia sẻ ít điều về việc phải “Lắng nghe nhịp bước người di dân”.

Phù điêu Người Di dân


HỌ LÀ AI ?

Theo Kinh Thánh, Thiên Chúa chọn Môsê tại núi Khorep, để đưa dân tộc Do Thái, gồm 600.000 người, kể cả phụ nữ và trẻ em cùng với hành lý, chiên bò… ra khỏi đất Ai Cập, vượt qua mọi thử thách vào đất hứa để tôn thờ Chúa. Vào thời Tân Ước, Ngài tiếp tục chọn Giuse, cha nuôi Chúa Giêsu, dẫn gia đình di cư lánh nạn để bảo toàn sự sống và mục tiêu cứu độ. Công đồng Vatican II nhận định: Ngày nay có biết bao người di cư. Họ được đối xử như những nhân vị, không bị kỳ thị, được tôn trọng. Họ cần được các cơ quan quốc tế cứu trợ. Các Kitô hữu phải ân cần tiếp đón. Và Ðức Giám mục đặc biệt quan tâm, lo cho họ lợi ích thiêng liêng của các tín hữu thuộc ngôn ngữ khác nhau.

Truyền thuyết dân tộc Việt Nam là một dân tộc di cư. Cha là Rồng, mẹ là Chim. Việt có nghĩa là vượt. Vượt xuống phương Nam, nắng ấm; Việt còn có nghĩa là chiếc Rìu, biểu tượng của sự khai phá. Tổ tiên ta, ngay từ buổi đầu, chấp nhận chia lìa, hy sinh tất cả, chỉ để lại con trưởng ở đồng bằng, lập nghiệp, dựng Quốc, xưng Vương. Mẹ dẫn con thống lĩnh vùng trời sơn cước; cha lãnh đạo đàn con ra khơi, khai thác vùng biển, đảo, mở rộng bờ cõi. Ngày nay, Việt Nam là một trong những nước có tốc độ đô thị hóa cao ở Ðông Nam Á. Theo thống kê, hiện lao động di cư gặp khó khăn về dịch vụ an sinh xã hội công cộng, nhiều người không có hợp đồng lao động, không mua bảo hiểm y tế để hỗ trợ giảm thiểu những rủi ro khi bị ốm đau, tai nạn lao động, tuổi già. Vấn đề nhà ở càng khó khăn hơn. Họ phải tá túc hoặc phải thuê nhà ở trọ tại các khu nhà ổ chuột tồi tàn, tạm bợ với giá cao so với mức thu nhập của họ. Có người di dân phải thuê nhà theo ngày và tập trung hàng chục người ở trong một không gian chật hẹp. Các khu ở trọ này thường có môi trường sống kém, chất thải khí và các chất độc hại khác đang làm cho cuộc sống của người di dân gánh thêm những tệ hại…


HỌ NÓI GÌ ?

Họ cần được yêu thương, thể hiện qua thấu hiểu và quan tâm. Vì cuộc mưu sinh không ổn định, sống lạc lõng, mặc cảm, tự ti với thân phận “vô xứ”, lại thiếu hiểu biết về giáo lý, giáo luật. Người di dân cần được Ban mục vụ di dân chú trọng mở chương trình chuẩn bị, trước khi rời khỏi quê hương bước vào đời sống mới, hầu tránh những khủng hoảng đức tin của cuộc sống ban đầu; và để giúp người di dân luôn biết ơn chính quyền địa phương đã chú ý chăm sóc trẻ em, bảo vệ khỏi bạo lực, bóc lột và bỏ rơi, bị tổn thương do bị lạm dụng thể chất và tình dục. Di dân là đối tượng hàng đầu của Giáo hội qua việc cứu giúp, chăm sóc an toàn và phong phú cho toàn thể gia đình. Một số giáo phận và giáo xứ đã có đội phản ứng nhanh để chủ động can thiệp hỗ trợ các gia đình gặp khó khăn, trực tiếp giải quyết bạo lực đối với trẻ em. Có giáo xứ tạo không gian an toàn, nơi trẻ em gặp khó khăn có thể được tư vấn và hỗ trợ.

Có một thực tế là người di dân luôn bị nhìn tiêu cực, như là tác nhân làm cho thành phố lộn xộn, mang theo tệ nạn, là gánh nặng cho nơi đến. Những định kiến này gây nên mặc cảm tự ti. Tuy nhiên, “gặp nhau làm nổi cơ đồ cũng nên”, bởi vì việc di cư cũng tạo nên những biến đổi văn minh thành thị, tạo nên những những hình thức văn hóa mới. Người di dân có nhu cầu toàn diện về thể chất, tinh thần và tâm linh. Ðã có các nhóm đồng hương được thành lập, quy tụ nhưng không đồng hành liên tục với người di dân trong suốt hành trình thích nghi với đời sống mới ở đô thị. Do đó, hướng về tương lai, người di dân cần được nâng đỡ, giáo dưỡng toàn diện. Chẳng hạn về thể chất, họ cần được chăm sóc sức khỏe, khám bệnh miễn phí, được cấp bảo hiểm y tế, xã hội, họ cần hành chánh đạo đời, pháp lý thông thoáng, lại cần có văn phòng dịch vụ một cửa từ A đến Z. Về mặt tâm linh, các giáo phận cần có ban mục vụ lo phần giáo lý, thiêng liêng, hướng dẫn cần thiết online… Người di dân là người cảm nghiệm khao khát được thương và đáp trả yêu thương.


ÐÀO LUYỆN LOAN BÁO TIN MỪNG

Dù tha phương cầu thực, nhưng thời nay, di dân là “dấu chỉ thời đại”. Người di dân cộng tác với Chúa Thánh Thần, tự đào luyện và được Giáo hội đào luyện. Xưa kia, kinh nghiệm đã cho thấy: vào lễ Hiện Xuống, các môn đồ “ở cùng nhau” thinh lặng hướng về Chúa Giêsu Thánh Thể. Chính khi chúng ta ở cùng nhau, Thánh Linh của Thiên Chúa soi dẫn chúng ta một cách đặc biệt. Thánh Linh kích hoạt khi chúng ta ở bên nhau chia sẻ những đau khổ của phận người và những tình huống cấp thiết hiện nay, để có cơ hội để tham cứu các giải đáp với nhau. Thánh Thần Thiên Chúa không bao giờ ngừng hoạt động và thúc đẩy những người xây dựng tình huynh đệ, đoàn kết và hiệp nhất. Với Thượng Hội đồng Giám mục hiện tại, Giáo hội mời gọi các môn đồ của Chúa Kitô khám phá ra chúng ta cần đến nhau đến mức nào.

Ðức Thánh Cha Phanxicô đã từng nhấn mạnh, một khi người di dân được “tiếp đón, bảo vệ, thăng tiến và hội nhập”, họ cảm nghiệm được tình thương của Thượng đế, của Thiên Chúa, để rồi họ mặc nhiên trở nên chứng nhân của tình thương. Tương lai gần, Việt Nam chuyển dần sang nền kinh tế dịch vụ, đặc biệt trong các lãnh vực dịch vụ chăm sóc người già, việc nhà, khu du lịch, khách sạn, nhà hàng, nhà thương… Những lãnh vực đó thuận lợi cho những người di dân, nhất là những nữ di dân bản lĩnh - những người đầu tiên được Chúa Giêsu Phục Sinh trao sứ mệnh loan báo Tin Mừng. Phải chăng ngay từ lúc này, rất cần đào luyện một nền đạo đức kinh tế dịch vụ: “Phục vụ - loan báo Tin Mừng”! Người di dân trở thành người loan báo Tin Mừng, góp phần giúp đô thị hóa văn minh, tiện nghi, tiện lợi, đồng thời đem lại sự cân bằng hưởng thụ thể chất, tinh thần và tâm linh. Các Ban mục vụ di dân phải chia sẻ những thực tiễn về nơi ăn chốn ở, bệnh tật, hôn nhân gia đình, giáo dục, tâm linh… với người di dân. Tất cả những nỗ lực này sẽ mang Tin Mừng hy vọng cho nhịp bước người di dân thời hiện đại! 

 

Lm Gioan Kim Khẩu Nguyễn Văn Hinh (D.Min)

 

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm