Thứ Năm, 10 Tháng Mười, 2019 15:27

Một góc truyền giáo tại đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh hiện nay

 

Ðồng bằng sông Cửu Long là vùng đa sắc tộc. Nơi đây quy tụ các cộng đồng người Kinh, Hoa, Khmer, Chăm… cùng sinh sống. Trong khu vực lại có nhiều tôn giáo hiện diện, phải kể đến Công giáo, Tin Lành, Phật giáo, Hòa Hảo, Cao Ðài, Hồi giáo, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa… có sức ảnh hưởng rộng, ngoài ra không ít cư dân theo tín ngưỡng dân gian hoặc “đạo thờ ông bà”. Mặc dù hạt giống Tin Mừng đã bén rễ từ lâu ở vùng đất này, theo dòng lịch sử, các thành phần Dân Chúa ở 4 giáo phận Mỹ Tho, Long Xuyên, Cần Thơ, Vĩnh Long luôn nỗ lực thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng, song, với các đặc điểm mang tính đặc thù nêu trên, cộng với sự biến chuyển về tình hình xã hội, văn hóa, kinh tế phức tạp trong thời gian gần đây tại miền Tây, việc truyền giáo gặp nhiều thử thách.

Nhân Tháng Truyền giáo ngoại thường của Giáo hội, báo Công giáo và Dân tộc đã thực hiện một chuyên đề nhằm nhìn lại vấn đề truyền giáo ở vùng ÐBSCL, cũng như lắng nghe những chia sẻ về các thao thức, ấp ủ cho công cuộc loan báo Tin Mừng tại Giáo hội địa phương trong chặng đường phía trước. Tham gia trao đổi có Ðức cha Giuse Trần Văn Toản, Giám mục giáo phận Long Xuyên; cha Giacôbê Hà Văn Xung, chánh xứ Chánh tòa, giáo phận Mỹ Tho; cha Phaolô Nguyễn Văn Vinh, chánh xứ Cà Mau, giáo phận Cần Thơ; cha Phêrô Nguyễn Tấn Khoa, chánh xứ Châu Ðốc, giáo phận Long Xuyên; nữ tu Anna Hồ Thị Hạnh, Giám tỉnh dòng Chúa Quan Phòng Cù Lao Giêng.

 

 

 

 

TRÊN CÁNH ÐỒNG BAO LA BÁT NGÁT

Ngay từ đầu, Hội Thánh đã mang vào mình sứ mạng truyền giáo. Chính Chúa Giêsu căn dặn các tông đồ: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo” (Mc 16, 15). Ðức Thánh Cha Phanxicô cũng nhấn mạnh đến nhiệm vụ chính yếu này của toàn thể Giáo hội: “Tôi ước mơ một chọn lựa truyền giáo, nghĩa là một nỗ lực truyền giáo có khả năng biến đổi mọi sự, để các thói quen, các cách hành động, các giờ giấc và chương trình, ngôn ngữ và cơ cấu của Hội Thánh có thể được khai thông thích hợp cho việc loan báo Tin Mừng trong thế giới hôm nay, hơn là cho sự bảo tồn của Hội Thánh…, như Ðức Gioan Phaolô II có lần nói với các giám mục châu Ðại Dương: Mọi sự canh tân của Hội Thánh phải lấy truyền giáo làm mục tiêu để tránh nguy cơ của một Hội Thánh quy vào chính mình”, tông huấn Niềm vui Tin Mừng, số 27. Ðức cha Giuse Trần Văn Toản cho biết trong lịch sử gần 60 năm của giáo phận và trước đó, kể từ lúc các vị thừa sai đến rao giảng ở Long Xuyên cách đây 350 năm cho đến bây giờ, chủ chăn và giáo hữu địa phận Long Xuyên luôn ý thức ưu tiên cho việc loan báo Tin Mừng, chủ yếu trên phần địa giới của giáo phận, bao gồm tỉnh An Giang, tỉnh Kiên Giang và quận Thốt Nốt, huyện Vĩnh Thạnh thuộc thành phố Cần Thơ. “Các sinh hoạt phụng vụ, bác ái, thiện nguyện, y tế, giáo dục… tuy có đa dạng và cần kíp đến mức nào đi nữa, nhưng tất cả cũng đều quy chiếu về mục đích cốt lõi là loan báo Tin Mừng”, Ðức cha nhấn mạnh.

Nữ tu Anna Hồ Thị Hạnh, phát xuất từ quan điểm cho rằng đời sống tâm linh của người Nam bộ khá phức tạp, do chịu ảnh hưởng của nhiều tôn giáo, mặt khác, với trào lưu hưởng thụ, con người ngày nay thường dễ thỏa mãn với những thứ trước mắt hơn là kiên nhẫn để tìm gặp một điều gì đó sâu xa, vì vậy, công cuộc truyền giáo tại miền Tây không chỉ nhắm tới sức lôi cuốn để có thêm nhiều Kitô hữu, mà còn cần phải có được một năng lực “thu hút”, trở nên “ngỡ ngàng”: “Bối cảnh xã hội hiện nay là xã hội của Internet, người dân Nam bộ cho dẫu đang đi bắt ếch dưới sông cũng nghe được tin tức chiến sự thế giới, thông tin tràn ngập như nước vỡ bờ, làm sao để giúp người dân gạn đục khơi trong giữa những luồng thông tin đó để sống đức tin. Truyền giáo hôm nay phải là giới thiệu, là trình bày, là minh họa, là đồng hành, là chứng tá”. Ở khía cạnh khác, về phương diện địa lý, ÐBSCL giáp với Campuchia, có sự giao thoa giữa hai nền văn hóa.

Còn cha Phêrô Nguyễn Tấn Khoa đặc biệt quan tâm đến việc truyền giáo ở vùng biên giới và nêu hình ảnh cụ thể : tại thành phố Châu Ðốc, tỉnh An Giang có khoảng 120.000 dân, nhưng chỉ khoảng 4.000 tín hữu Kitô giáo. Tại huyện An Phú chỉ có 1.000 người Công giáo trong số khoảng 200.000 dân.

Thật vậy, xét riêng vấn đề dân cư ở ÐBSCL đã thấy được mức độ quan trọng đòi hỏi việc ra sức truyền giáo ở mỗi Kitô hữu. Có thể nói, “đây vẫn là cánh đồng truyền giáo bao la bát ngát” - theo cách cha Giacôbê Hà Văn Xung nhận xét - cần sự chung sức của toàn thể Dân Chúa để ngày càng làm cho đạo Chúa rộng mở ngay ở mảnh đất trù phú này.

Giáo điểm truyền giáo Phanxicô Xaviê, GP Cần Thơ vừa được nâng lên thành giáo xứ vào tháng 6.2019

 

CHÚNG TA ĐANG LÀM NHỮNG GÌ ?

Người đồng bằng tập trung san sát thành làng, ấp, sống thân thiện và cởi mở. Họ dễ chấp nhận nhau cũng như lấy chân thành mà đối đãi. Theo nữ tu Anna Hồ Thị Hạnh, chính tính cách dễ gần, phóng khoáng của con người miền Tây đã là yếu tố tiên vàn thuận lợi cho việc truyền giáo: “Dân Nam bộ vốn mộc mạc hiền hòa, trong giao tiếp không quá câu nệ. Nhiều khi mới tiếp xúc, đi cùng với nhau một quãng đường, đi chung một chuyến đò cũng có thể sẻ chia vài tâm sự thường ngày. Ngang qua những câu chuyện đó, người Công giáo có thể hướng anh chị em mình tìm thấy được niềm vui và ý nghĩa trong bổn phận họ đang làm, hầu khơi dậy niềm tin vào Thiên Chúa”. Ðức cha Giuse Trần Văn Toản thông tin, với trên 230.000 Kitô hữu trong tổng số trên 4 triệu dân ở địa bàn giáo phận Long Xuyên, người Công giáo thường xuyên sinh hoạt với các anh chị em khác niềm tin và khác triết lý sống: “Ý thức về sứ vụ loan báo gương mặt Ðức Giêsu cho mọi người, các Kitô hữu luôn tìm cơ hội giới thiệu những giá trị của Tin Mừng bằng lời chứng và đời chứng. Vùng đất này có những khác nhau về gốc gác như Bắc, Trung, Nam, Hoa lai Việt, Khmer lai Việt.., có những khác biệt về tín ngưỡng, nhưng người dân khéo dung hòa. Trong bầu khí đó, các cộng đồng Kitô hữu được đón nhận để trở thành một thành viên của cộng đồng xã hội địa phương, dễ dàng đối thoại bằng đời sống”. Quả vậy, đi khắp miền Tây, sẽ dễ nhìn thấy các xứ đạo hiện diện giữa cộng đồng đa tôn giáo như ở Sóc Trăng, Bạc Liêu, Chợ Mới, Châu Ðốc, Tri Tôn, Tân Châu, Trà Vinh…, giáo dân sinh sống xen giữa các tín đồ tôn giáo bạn. Như chia sẻ của Ðức cha Giuse, sự đa dạng về tín ngưỡng, sắc tộc ở ÐBSCL nhìn theo hướng tích cực là điều thuận lợi để các thành phần Dân Chúa rao giảng Nước Chúa cho tha nhân.

Ban Loan báo Tin Mừng các giáo phận Mỹ Tho, Cần Thơ, Long Xuyên, Vĩnh Long họp mặt bàn về công cuộc truyền giáo chung ở trong vùng

 

Cha Phêrô Nguyễn Văn Vinh cho hay, ban Loan báo Tin Mừng của giáo phận Cần Thơ cứ mỗi 3 tháng sẽ họp với Ðức cha Stêphanô Tri Bửu Thiên, Giám mục giáo phận một lần, bàn những việc cụ thể, giáo phận này cũng quyết tâm một năm lập thêm 2 giáo điểm. Hiện đã có 49 giáo điểm. Hằng năm, Ðại hội Loan báo Tin Mừng cấp giáo phận và cấp hạt được tổ chức để gây ý thức, khơi gợi tinh thần truyền giáo cho giáo dân. Ban này sẽ phối hợp với ban Giáo lý đào tạo cho các giáo lý viên Dự tòng và Hôn nhân để họ vững vàng tiếp cận với dự tòng.

Cha Giacôbê Hà Văn Xung thì nói Ðức Giám mục giáo phận Mỹ Tho Phêrô Nguyễn Văn Khảm luôn thúc đẩy các cha đi đến “vùng ngoại biên”. Ngay từng giáo xứ, cộng đoàn giáo dân cũng ý thức sứ vụ truyền giáo. Tại giáo xứ Chánh tòa Mỹ Tho, họ đạo thường xuyên tổ chức phát cơm trưa cho những người nghèo, vô gia cư, bán vé số sống trong thành phố. Nhà thờ Chánh tòa đã xây dựng một cơ sở từ thiện ở vùng quê nghèo giữa người lương dân cách thành phố Mỹ Tho 9 cây số để đón tiếp, chăm sóc nuôi dưỡng người già, không phân biệt tôn giáo, ngoài ra còn có phòng khám y học cổ truyền, nhằm kịp thời khám chữa bệnh cho người trong xóm làng.

 

Các nữ tu dòng Chúa Quan Phòng Cù Lao Giêng trong hành trình phục vụ của mình vẫn âm thầm truyền giáo. Theo thông tin từ sơ Anna Hồ Thị Hạnh, bề trên đương nhiệm, tỉnh dòng có cả thảy 43 cộng đoàn nhưng có đến 41 nhà nằm ở nông thôn, hiện diện trong 3 giáo phận Long Xuyên, Mỹ Tho, và Vĩnh Long. “Ở các cộng đoàn, vì trong làng nên không đủ điều kiện để mở trường, chị em Chúa Quan Phòng chỉ có các nhóm trẻ mầm non. Mục đích nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc giáo dục trẻ, đặc biệt là trẻ thuộc gia đình nghèo. Chúng tôi không phân biệt tôn giáo khi nhận trẻ, các em được hưởng những quyền lợi như nhau. Phần lớn ở các nhóm trẻ này, chị em quan tâm đến việc miễn giảm học phí cho các em, bên cạnh đó còn cung cấp thêm quần áo, tập viết và bánh kẹo. Các nữ tu trong các cộng đoàn mỗi tuần dành một ngày để đi thăm viếng người dân. Họ đến với mọi hoàn cảnh. Những chuyến viếng thăm ấy quả là những thời khắc vàng của lắng nghe, của chia sẻ, đồng hành. Vừa lắng nghe,  vừa giúp bà con thu dọn nhà cửa, tiếp sức trong công việc thường ngày. Các chị đã nhận được nhiều câu hỏi như: ‘Cô là ai ? Sao cô đến giúp tôi?’. Bước đầu là thế, từ từ họ nhận ra nét đẹp của đạo và xin được Rửa tội, cho dẫu có người đã già nua”, sơ tâm sự.

Đồng hành, giúp đỡ người đau khổ là sứ mạng của các nữ tu dòng Chúa Quan Phòng

 

Cha Phêrô Nguyễn Tấn Khoa đưa ra điển hình về sự hồi sinh của một xứ đạo truyền giáo tại vùng biên giới. Ðó là giáo xứ An Phú, nằm tại huyện An Phú, tỉnh An Giang. “Sau hơn 40 năm, không có linh mục, không có nhà thờ, đời sống đạo của bà con rất bấp bênh, khô khan, nguội lạnh, mê tín dị đoan… Lớp trẻ không được học giáo lý, không được lãnh các bí tích. Mà muốn đi lễ nhà thờ Châu Ðốc thì phải lặn lội 17 cây số; đi nhà thờ Khánh Bình thì xa hơn, khoảng 22 cây số. Người dân ở đây hầu như không biết gì về đạo Công giáo, không biết linh mục là người như thế nào, ngay cả một số cán bộ địa phương cũng thế. Từ năm 2010, chúng tôi đã cố gắng liên lạc với chính quyền và từng bước xây dựng cơ sở vật chất. Nhờ sự hiện diện liên lỉ với bà con mà giáo xứ An Phú, tưởng như đã chết, nay nhiều người trở lại đạo, nhiều người xin theo đạo, cách đây không lâu nhà thờ mới được khánh thành, mọi thứ báo hiệu một sức sống đang bừng dậy”, cha nói. Tuy nhiên, An Phú là đại diện cho số ít, số cá biệt những cộng đoàn hồi sinh. Cả Ðức cha Giuse, sơ Anna, cha Giacôbê, cha Phêrô và cha Phaolô đều cho rằng cần vượt qua những rào cản, cần nỗ lực truyền giáo hơn nữa. Cha Phaolô Nguyễn Văn Vinh còn nhấn mạnh truyền giáo phải hướng đến tính hiệu quả thực sự: “Mỗi xứ đạo có những cách thế loan báo Tin Mừng khác nhau. Có nơi thích mì ăn liền, cần có kết quả ngay, cần số lượng, chất lượng tính sau. Tôi luôn có một lập trường rõ rệt là cần chất lượng hơn số lượng. Cứ gieo vãi bằng đời sống yêu thương, những việc thiện lành. Tôi không muốn người nghèo theo đạo vì mì gói, vì gạo, vì tiền hay vì nhà tình thương..., mà mong họ có lòng mến Chúa và đức tin. Do đó, không vội vã, từ từ tiến và kêu mời giáo dân sống sứ vụ truyền giáo bằng cuộc sống hòa thuận”. Ðể kết quả truyền giáo được như mong đợi đòi hỏi Dân Chúa phải dày công, tâm huyết và bản lĩnh vượt qua thách đố. Ở vùng ÐBSCL ngày nay, tình hình xã hội, đời sống lại càng mau thay đổi…

 

CÓ NỖI KHÓ KHĂN NÀO?

Công bằng mà nói, truyền giáo thời đại nào cũng gặp những thử thách. Mỗi giai đoạn mỗi khác và ở từng vùng miền lại có những vấn đề nan giải không giống nhau. Ðức cha Giuse Trần Văn Toản nhận định, về mặt xã hội, những giá trị đạo đức và tâm linh ngày nay thường bị nhiều người coi là không thực tế so với nhu cầu và sự hấp dẫn của vật chất như tiền, quyền, tiện nghi thụ hưởng. Vì vậy, việc loan báo Tin Mừng như hạt giống được gieo vào thửa ruộng có nhiều gai góc. Ngoài ra, xã hội Việt Nam nói chung và ngay tại ÐBSCL nói riêng, những giá trị truyền thống về lòng thảo hiếu, về tình làng nghĩa xóm, về bác ái bao dung… đang bị khủng hoảng, nhất là nơi người trẻ. Trong bối cảnh này, việc loan báo Tin Mừng như gieo giống vào thửa ruộng sỏi đá. Ðức cha cũng nói đến một thực tế là cuộc sống kinh tế của người nông dân miền quê hay gặp bất ổn, dẫn tới nợ nần, thiếu hụt và cái nghèo dai dẳng. Trong bối cảnh này, việc loan báo Tin Mừng như hạt giống được gieo vào đất bên vệ đường.

 

Nhìn từ nội tại, cha Giacôbê Hà Văn Xung thẳng thắn cho rằng Giáo hội hôm nay, cách riêng ở ÐBSCL, dường như vẫn thiếu những vị thừa sai nhiệt thành: “Vẫn còn đó tâm lý thích sống an toàn nơi vùng đất của mình, tự chăm sóc mình hơn là ra đi đến với muôn dân theo lệnh truyền của Chúa”. Cha Phaolô Nguyễn Văn Vinh đồng tình với ý kiến này, cha nói thêm: “Chủ chăn và giáo dân ngày nay thiếu ‘lửa truyền giáo’, thường chỉ biết lo cho xứ đạo của mình, thường hay có lối suy nghĩ rằng Giáo hội đời đời, hôm nay mình không làm, ngày mai người khác cũng làm. Chưa thấy và chưa ý thức được căn tính Kitô hữu là phải truyền giáo”. Còn nữ tu Anna Hồ Thị Hạnh nhìn nhận, chính nhu cầu việc làm đã kéo theo hệ quả là tình trạng di cư xảy ra ở người trẻ, người trong độ tuổi lao động. Các bạn trẻ Công giáo lớn lên ở các xứ đạo cũng nằm trong vòng xoáy này. “Rào cản mà chúng tôi đang gặp phải là sự vắng bóng của người trẻ nơi các thôn làng. Ði vòng quanh những nẻo đường quê, chỉ nhìn thấy  người già và trẻ nhỏ. Các thanh thiếu niên sau khi hoàn tất chương trình phổ thông, muốn tiến thân xa hơn trong các trường đại học, muốn tìm công ăn việc làm thì phải bỏ quê ra phố. Chị em Chúa Quan Phòng vừa mới đào tạo vài em giáo lý viên, vài em trong ca đoàn…, để là cánh tay nối dài trong công tác mục vụ và truyền giáo, chưa bao lâu thì lại đi học xa, đi làm xa và phải chia tay”, sơ nói.

Họ đạo Chánh tòa Mỹ Tho phát cơm trưa cho người khó khăn trong cộng đồng, một cách làm nối kết yêu thương

 

Cha Phaolô Nguyễn Văn Vinh bày tỏ thao thức cần có những khóa giáo lý thêm cho giáo dân, bởi một số giáo hữu ngày nay bị hổng kiến thức giáo lý. “Muốn truyền giáo được, thì bản thân phải am tường về đạo mình và xác tín với niềm tin của mình. Giáo lý chưa vững, đức tin còn yếu, khi tiếp xúc với tôn giáo bạn sẽ bối rối”, cha nói. Nhìn ở mặt đào tạo, Ðức cha Giuse Trần Văn Toản cũng thừa nhận ngay trong chương trình huấn luyện Kitô giáo ở các giáo phận, sứ vụ loan báo Tin Mừng chưa được quan tâm đúng mức: “Cụ thể là chương trình giáo dục trong các chủng viện, việc đào tạo các chủng sinh trở thành các vị mục tử được coi trọng hơn đào tạo các vị thừa sai. Rồi việc dạy giáo lý tại các cộng đoàn cho giáo dân, các xứ đạo chủ yếu chú tâm cho thiếu nhi và giới trẻ học kinh bổn, ít quan tâm đến việc đào tạo tinh thần thừa sai của người Kitô hữu”.

VỀ NHỮNG CON NGƯỜI LÊN ÐƯỜNG

Mọi thành phần Dân Chúa đều có trách nhiệm truyền giáo. Ðức Thánh Cha Phanxicô tỏ bày ao ước của ngài rằng con cái Chúa hãy ra đi để cống hiến cho mọi người sự sống của Chúa Kitô: “Tôi thà có một Hội Thánh bị bầm dập, mang thương tích và nhơ nhuốc vì đi ra ngoài đường, hơn là một Hội Thánh ốm yếu vì bị giam hãm và bám víu vào sự an toàn của mình. Tôi không muốn một Hội Thánh chỉ lo đặt mình vào trung tâm để rốt cuộc bị mắc kẹt trong một mạng lưới các nỗi ám ảnh và các thủ tục. Nếu có cái gì đáng phải khiến chúng ta trăn trở và áy náy lương tâm, thì đó chính là sự kiện nhiều anh chị em chúng ta đang sống mà không có sức mạnh, ánh sáng và niềm an ủi phát sinh từ tình bạn với Ðức Giêsu Kitô, không có một cộng đoàn đức tin nâng đỡ họ, không tìm thấy ý nghĩa và mục tiêu trong đời. Tôi mong rằng, thay vì sợ đi lạc, chúng ta nên sợ bị giam hãm trong những cấu trúc làm cho chúng ta có một cảm giác an toàn giả tạo, những quy tắc biến mình thành những quan tòa tàn nhẫn, với những thói quen làm bản thân cảm thấy an thân, trong khi ở ngoài cửa người ta đang chết đói” (trích Tông huấn Niềm vui Tin Mừng, số 19).

Để ánh sáng Tin Mừng lan tỏa cho muôn dân, rất cần những mục tử mạnh dạn đi ra vùng ngoại biên (trong ảnh: một linh mục thuộc GP Mỹ Tho đang thăm hỏi và trao xe lăn cho người già)

 

Nói tới vai trò của giáo dân trong việc loan báo Tin Mừng, Ðức cha Giuse Trần Văn Toản lưu ý, người tín hữu được mời gọi rao giảng Lời Chúa và xây dựng Nước Chúa bằng chính đời sống chứng nhân như muối, như men trong hoàn cảnh sống cụ thể. Tuy nhiên, các vị mục tử, những người có bổn phận gương mẫu cho đoàn chiên cũng cần ý thức tầm quan trọng của việc truyền giáo trong các mục vụ hằng ngày. Riêng điều này, cha Phaolô Nguyễn Văn Vinh chia sẻ: “Cha chánh xứ có vai trò rất quan trong sứ vụ truyền giáo. Dầu Hội đồng Giám mục hay cấp giáo phận có những quyết định, đề ra các việc làm cụ thể cho việc truyền giáo mà các chánh xứ không hưởng ứng triển khai thì nó chỉ là văn bản thông tin, thông báo thôi. Các ngài phải là đầu tàu, là người tiên phong và cổ võ, đồng thời đích thân hành động nêu gương cho các đoàn hội và mọi thành phần Dân Chúa”. Sơ Anna Hồ Thị Hạnh trình bày quan điểm về sự đóng góp của nữ tu trong sứ mạng chung. Theo đó, người nữ tu cần trở nên dụng cụ đơn sơ, trở nên sự hiện diện Kitô gần gũi với người cùng khốn: “Sự khốn cùng muốn nói đến không chỉ là miếng cơm manh áo, mà còn là những khốn cùng về mặt tinh thần, rất nhiều người già neo đơn, côi cút thiếu người chăm sóc, hỏi han, thăm viếng. Âm thầm và lặng lẽ, các nữ tu tiếp cận với tha nhân, mang đến cho họ bình an và niềm vui. Tôi tin rằng khi đau chung nỗi đau với người khác, khi phục vụ vô vị lợi và dành cả tấm lòng cho tha nhân thì sẽ cảm hóa được họ và lúc đó: ‘Người ta sẽ nhận biết các con là môn đệ Thầy’ (Ga 13, 35).

Ở cấp độ giáo phận, cha Giacôbê Hà Văn Xung thông tin chương trình chung của giáo phận Mỹ Tho là từng bước thúc đẩy người giáo dân tham gia vào công cuộc truyền giáo của giáo phận như thành lập các nhóm truyền giáo, huấn luyện đào tạo nhân sự, tổ chức chương trình cầu nguyện cho việc truyền giáo. Ban Loan báo Tin Mừng của giáo phận huấn luyện giáo dân, gây ý thức và sai họ đi truyền giáo theo cách thế: làm quen, thăm viếng, nối kết tình thân, tương trợ trong tình bác ái truyền giáo và kể lại những ơn lành Chúa đã ban.

 

Trước thềm kỷ niệm 60 năm thành lập (1960 - 2020), giáo phận Long Xuyên cũng đã đề ra chương trình loan báo Tin Mừng, và kêu gọi mọi cộng đoàn Dân Chúa trong giáo phận tham gia hiệp thông đồng trách nhiệm: “Các sinh hoạt cơ bản là cầu nguyện, hy sinh, làm việc bác ái, nhất là phục vụ người nghèo; Quan tâm đặc biệt đến giáo dục giới trẻ như cách thế gieo hạt giống Tin Mừng; Tổ chức các cuộc thăm viếng cá nhân, gia đình, các tập thể của các anh chị em các tôn giáo bạn; Kết nghĩa tập thể giữa giáo xứ và giáo điểm truyền giáo, kết nghĩa cá nhân với cá nhân các anh chị em tôn giáo bạn; Tổ chức các cộng đoàn cơ bản cùng với anh chị em các tôn giáo bạn, đặc biệt là tại vùng sâu vùng xa; Hình thành giáo điểm để có cơ hội đến với lương dân”, Ðức cha Giuse Trần Văn Toản chia sẻ.

Miền Tây Nam bộ, một vùng “đất lành chim đậu”, nơi chôn nhau cắt rốn của những tộc người mang tín ngưỡng khác nhau vẫn là mảnh đất màu mỡ để hạt giống Tin Mừng phát triển. Lịch sử Giáo hội Công giáo Việt Nam ghi nhận Lời Chúa đã hiện diện nơi đây hơn 300 năm. Ðể thu được những thành quả hiện tại, qua các thế hệ đã có những lớp người âm thầm và nhiệt thành rao truyền Lời Chúa. Cha Phêrô Nguyễn Tấn Khoa trải lòng: “Cũng nên để ý đến vấn đề thời gian. Không thể hấp tấp, nóng vội cho mau đạt được kết quả, mà cần kiên nhẫn chờ hạt giống Lời Chúa có thời gian bám rễ sâu, mọc lên mạnh mẽ, chắc chắn và đơm bông kết trái phong phú. Cách đặc biệt, truyền giáo tại vùng ÐBSCL là đến với những con người có lý trí, có ý chí, có tự do, có sự cân nhắc chọn lựa. Vì những lẽ đó, phải hết sức khéo léo và tế nhị!”.

 

HÙNG LUÂN

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm