Thứ Sáu, 02 Tháng Mười, 2015 10:03

Người gieo hạt nơi vùng đất ngập mặn Cần Giờ

Giờ đây, tóc đã bạc, chân đã mỏi nhưng cha Giuse Phạm Kim Điệp (DCCT) vẫn hướng lòng về vùng đất ngập mặn Cần Giờ - TPHCM, mảnh đất mà cha gắn bó gần như cả đời mục tử để khai phá, ươm mầm và gieo những hạt giống đức tin. Những nhọc nhằn, từng trải giờ là những kỷ niệm đẹp trong tâm hồn vị linh mục già trong những giây phút hàn huyên. Chưa đến tuổi hưu nhưng cha được dòng cho về nghỉ sớm vì sức khỏe suy giảm. Có lẽ, đó cũng là minh chứng cho dấu chân không biết mệt mỏi, in hằn trên từng con đường lớn, ngõ nhỏ nơi vùng đất ngập mặn Cần Giờ.

Nối tiếp hành trình từ tiền nhân

Theo sử sách ghi lại, hạt giống Tin Mừng đã xuất hiện tại Cần Giờ từ thế kỷ 19, khi Thánh tử đạo, thương gia Lê Văn Gẫm bị bắt tại cửa biển Cần Giờ (7.5.1846). Nơi này về sau trở thành điểm lưu trú của những tín hữu chạy trốn nạn bắt đạo. Khi đó, tại đây đã hình thành hai giáo đoàn tiên khởi là Thạnh Thới và Đồng Hòa. Theo một thống kê của các cha Thừa sai, năm 1916 ở Thạnh Thới có 73 giáo dân và Đồng Hòa là 49 người. Tuy nhiên, do Cần Giờ là “vùng nóng” trong thời chiến nên giáo dân di tản lánh nạn về Sài Gòn, qua Vũng Tàu. Sau năm 1945, Công giáo nơi đây trở về con số 0.

Linh mục Giuse Phạm Kim Điệp lúc còn trẻ

Năm 1971, Đức cố TGM Phaolô Nguyễn Văn Bình giao Cần Giờ cho các cha dòng Chúa Cứu Thế (DCCT), linh mục Trần Văn Lượng đã đại diện cho Nhà dòng đứng ra nhận điểm truyền giáo lắm gian truân này. Khi về ấp Phong Thạnh, xã Cần Thạnh, ngài dựng nên một ngôi nhà thờ để bà con có nơi kinh nguyện. Mọi thứ bắt đầu định hình thì năm 1974, cha Lượng qua đời. Dù rằng thời điểm đó vẫn có các cha DCCT đi lại làm mục vụ nhưng không đều đặn vì các ngài không ở hẳn tại đây, do đó, công cuộc truyền giáo tại Cần Giờ lại bị thử thách... Khoảng một năm sau đó, ngày 15.8.1975, linh mục Giuse Phạm Kim Điệp, DCCT, được Đức Tổng Phaolô trao sứ vụ linh mục và bổ nhiệm đặc trách giáo điểm truyền giáo Cần Thạnh, phụ trách toàn bộ huyện Duyên Hải (nay là huyện Cần Giờ). Do thấy mọi sự quá khó nên Đức Tổng cho cha thời gian để suy nghĩ (trước đó cha Điệp vốn không còn quá xa lạ với con người nơi đây, vì từ năm 1972, khi còn là thầy, ngài đã về giúp cha Lượng ở Cần Thạnh) nhưng cha nhận lời không chút đắn đo. Vì ngoài sự phân công của bề trên, con người và mảnh đất nơi đây đã sống trong tâm trí cha từ lâu, hơn nữa, nếu không có linh mục, người Công giáo ở Cần Giờ có thể bị “xóa sổ”. “Thương lắm! họ chịu thiệt thòi đủ thứ, lại bị bom đạn cày nát. Hơn nữa, phục vụ người nghèo là hướng đi tôi đã chọn từ khi còn ở Nhà dòng”, cha tâm sự.

Nhà thờ An Thời Đông

Mọi việc khởi đầu từ số không. Khi về cha chọn Cần Thạnh làm “điểm trung chuyển”, để từ đó “tỏa bóng” ra các khu vực lân cận. Cần Thạnh ngày đó chỉ vỏn vẹn một ngôi nhà nguyện nhỏ liêu xiêu, cha phải tá túc trong ngôi nhà dựng tạm mà “mưa tuôn đến mặt, nắng chói đến đầu”. Ngoài việc vực dậy đời sống bổn đạo, cha còn thao thức gầy dựng lại những điểm truyền giáo vốn có từ trước, hay mỗi khi có ai đó nhỏ to vào tai rằng nơi này nơi kia có vài gia đình Công giáo là y như rằng, cha lại lặn lội dãi nắng, mưa dầm đến tận nơi thăm hỏi. Cũng nhờ những chuyến đi và đi, đến tận nơi, tìm tòi, quy tụ, phát triển, lần lượt ba giáo điểm vừa cũ vừa mới được hình thành: Đồng Hòa, Tam Thôn Hiệp, An Thới Đông... 

Lớp khuyết tật tình thương An Thới Đông

Khi đó, một mình cha phải coi sóc bốn giáo điểm, tới năm 1987 mới có các cha khác về giúp. Nếu lấy Cần Thạnh làm trung tâm, từ đó xuống An Thới Đông là 30 cây số, Đồng Hòa 13 cây số, lên tới Tam Thôn Hiệp là khoảng 50 cây số. Thời đó, Cần Giờ chỉ bạt ngàn rừng Sác với nước và bần, đước...; phương tiện thuận lợi nhất và gần như duy nhất để đi lại là thuyền. Năm 1985 mới có con đường đất đỏ nối Sài Gòn với Cần Giờ qua hai bến phà Bình Khánh và Dần Xây. Để tới điểm này hay điểm kia dâng lễ, cha phải đi cả buổi, tuy nhiên, còn phải tùy theo con nước, vì nếu “vấp” phải nước chảy ngược thì có khi cả ngày mới tới. Cha kể, thời đó, từ Cần Thạnh muốn lên Tam Thôn Hiệp - họ đạo Giuse bây giờ, khoảng 50 cây số đường sông nhưng nhiều khi lỡ chuyến đò phải ở lại tới nửa đêm mới “quá giang” mấy chiếc ghe buôn bán tôm cua gần đó để đến nơi. “Đêm ở lại tôi thường vào chùa xin cơm và tá túc. Đón đò lên tới tận nơi đã 2, 3 giờ sáng. Không ít lần bị té xuống sông, cả đồ lễ, cả quần áo ướt hết, phải tìm mọi cách hong khô để tới sáng còn kịp dâng lễ”, cha cười tươi kể. Dù khó khăn là vậy nhưng mỗi tuần vào thứ 7 hay Chúa nhật, các điểm đều đặn có thánh lễ. 

Chính nhờ sự hy sinh không biết mệt mỏi ngày này qua tháng khác, nên giờ đây, các giáo điểm đã ổn định, mọi sinh hoạt đi vào nề nếp, nhiều nơi nâng lên hàng giáo xứ. Cha cũng xây cất lên nhà thờ Cần Thạnh, Tam Thôn Hiệp… cùng nhiều cơ sở đi kèm để giáo dân có nơi thờ phượng. Và, không chỉ dấn thân vào công việc truyền giáo, cha cũng xả thân trong công tác xã hội.

Gầy dựng công cuộc bác ái

Ngày về Cần Thạnh, giữa muôn trùng khó khăn, việc mục vụ đã là một Thánh Giá nặng nề nhưng những khi có thể, cha luôn sát cánh cùng giáo dân trong cuộc sống thường ngày của họ. Ông Giuse Hoàng Văn Hòa, Chủ tịch HĐMVGX Cần Giờ, người từng giúp cha Điệp gần 30 năm qua nhớ lại: “Người dân đã quen với hình ảnh cha đi đến từng nơi, trò chuyện từng người để xem con chiên mình thiếu gì thì giúp đó, nhờ vậy, nhiều nông dân đã nhận được những vật dụng thiết yếu nơi vùng đất ngập mặn như ghe xuồng, thiếu lưới đánh cá, lu đựng nước”…  Về sau, cha còn đứng ra hỗ trợ để các em bị bệnh tim bẩm sinh được mổ và điều trị. Thấy có nhiều cụ già sống một mình không nơi nương tựa, cha cho xây nên dãy nhà dưỡng lão tại Cần Thạnh và đón họ về sống chung dưới một mái. Ở Cần Giờ, nhiều thanh niên không có nghề nghiệp ổn định nên đã có một thời kỳ, cha mở ra những lớp dạy nghề mộc, cơ khí, vi tính giúp các em có cơ hội tìm việc làm nơi thành phố. Khoảng 80% học viên lúc đó là người ngoài Công giáo.

Lưu xá sẽ mãi là những kỷ niệm đẹp

Qua những chuyến đi mục vụ, cha tin chắc rằng, chỉ có giáo dục mới mong đẩy lùi sự nghèo đói, giúp huyện đảo Cần Giờ phát triển ổn định. Vì địa thế Cần Giờ tựa như một cái đòn gánh, người dân và các dịch vụ dân sinh tập trung ở hai đầu nên ngày đó, khắp Cần Giờ rộng lớn chỉ có đúng hai trường cấp III, một ở Cần Thạnh, một ở Bình Khánh. Do vậy, tạo điều kiện cho con em mình học tập là cả một sự cố gắng đối với nhiều gia đình. Mặt khác, do đi học xa nhà, đường sá khó khăn, nhiều em cũng đã bỏ ngang... Để giải quyết khúc mắc này, ngay tại Cần Thạnh, cha mở ra những trường nội trú cấp II, III miễn phí ăn, ở cho con em bên An Thới Đông, Đồng Hòa, Tam Thôn Hiệp và xã đảo Thạnh An đến đây lưu trú, an tâm theo đuổi con chữ. Mỗi năm nhà nội trú tiếp nhận khoảng 40 – 50 em, đỉnh điểm có năm lên tới gần 80 em trọ học. Gần 30 năm trôi qua, nơi đây đã ươm mầm cho biết bao thế hệ mà giờ đã là những bác sĩ, kỹ sư, giáo viên..., góp phần thay đổi bộ mặt Cần Giờ. Kể từ năm học này, lưu xá vắng bóng học sinh vì hiện mỗi xã đều đã có trường, nhưng với những thế hệ đã đi qua, đó mãi là khung trời kỷ niệm.

Một ngày bình yên ở nhà dưỡng lão Cần Thạnh

Bệnh tật là “chuyện thường ngày ở huyện”. Ngày đó, tiếng là dân thành phố nhưng người Cần Giờ phải sống giữa rừng, thiếu thốn nước ngọt nên bệnh tật triền miên đeo đuổi họ. Tiết kiệm được bao nhiêu cũng chỉ đủ cho tiền thuốc thang. Thấu hiểu vấn đề này, cha kết hợp cùng địa phương, một số đoàn thể Công giáo thường xuyên tổ chức khám chữa bệnh miễn phí cho dân nghèo. Phòng thuốc tại Cần Thạnh đã hoạt động mỗi tuần ba lần, mỗi lần khám và phát thuốc cho khoảng 40 người. Hiện phòng khám cũng không còn khi các cơ sở an sinh đã ngày một rộng khắp… Do Cần Giờ là vùng “nóng” của chiến tranh, phải hứng chịu nhiều hậu quả từ bom đạn cùng chất độc màu da cam nên tỉ lệ các em tàn tật khá đông. Thấy vậy, cha lại lặn lội ngược xuôi tìm kiếm kinh phí để mở trường tình thương cho các em khuyết tật tại Cần Thạnh và An Thới Đông, với sự phụ giúp của các nữ tu dòng MTG Chợ Quán.

Nhờ công cuộc “tái truyền giáo” của cha, nhiều hạt giống đâm chồi, cây con đã vươn cành. Từ khoảng 100 giáo dân ngày về, nay tại 4 giáo điểm, con số đó tăng lên gấp 15 lần, trong đó phân nửa là các giáo hữu tân tòng, theo đạo vì cảm mến tấm lòng và những việc làm của cha. Dù số giáo dân thường xuyên trồi sụt do nhiều người ở cách xa nhà thờ, công việc mục vụ chưa lan tỏa rộng…, nhưng công cuộc truyền giáo nơi đây có nhiều hứa hẹn trong chặng đường sắp tới.

Và, trong hành trình hy vọng đó, người ta khó quên hình ảnh cha Điệp từng ngược xuôi 40 năm với rừng Sác, nước, những chiếc thuyền và tình yêu thương… 

ĐÌNH QUÝ

 

Ý kiến bạn đọc ()
Tin tức liên quan
Tin khác
Xem thêm