Thứ Ba, 13 Tháng Hai, 2018 15:22

“Ông Bụt” của những bệnh nhân phong

Di Linh những ngày cuối năm ban đêm trời gió lạnh, ngày lại nắng buốt, tiết trời lắm lúc đỏng đảnh, dễ làm khách xa cảm thấy ngột ngạt, khó chịu. Nằm trên ngọn đồi cao, Trại phong Di Linh như chút nắng ấm thổi vào lòng người ghé qua. Mấy mươi năm về trước, đây là địa chỉ để cộng đồng mang lại cho người bệnh phong tình thương, niềm hy vọng. Nay thì theo thời gian, cảnh vật và đời sống cư dân tại chỗ đã thay đổi nhiều, nhưng có một giá trị trường tồn, đó là tấm chân tình mà mọi người, cả thế hệ con cháu sau này, dành cho “Bèp Cách Xành” (cách gọi thân mật Ðức cha Cassaigne của người K’Ho), người sáng lập và dành gần như trọn đời mình với Trại phong Di Linh.

 

Ngày ngài được tấn phong Giám mục với những đứa con đến từ vùng cao nguyên

Ngài nằm xuống tới nay đã 45 năm, nhưng vang vọng khắp núi rừng Di Linh, đâu đó vẫn đọng lại những câu chuyện, từng cử chỉ thân thương. Còn với những cư dân trại phong, “Bèp Cách Xành” vẫn còn sống mãi. Vì đơn giản, họ không xem ngài đơn thuần như một tu sĩ, mà còn như người cha trong gia đình.

Người mở đường

Mặc dù mới hơn một tuổi thì Ðức cha đã mất, nhưng khi dẫn chúng tôi tham quan nhà truyền thống, K’Briu, bảo vệ trại phong, nhớ vanh vách những gì thuộc về người cha già. Từ bức hình đến những đồ vật được trưng bày đều chứa đằng sau những câu chuyện dài, được anh kể với chất giọng yêu thương và đầy cảm mến. Ba mẹ anh từng là bệnh nhân, được Ðức cha chăm sóc và giúp nên duyên. Anh sinh ra trong trại, lớn lên cùng những câu chuyện về ông “Bèp Cách Xành” do cha mẹ kể lại. “Bà con phong nơi đây vẫn gọi ngài là Bèp, Bèp Ðờng (cha, Ðức cha) nhưng thật ra trong thâm tâm mọi người coi ngài như người thân, là ông nội. Mà đã người thân trong nhà thì mình phải biết hết thôi”, anh giải thích.

Đức cha và một bệnh nhân trong những ngày đầu ngài tới Di Linh

Sinh ngày 30.1.1895 và lớn lên tại nước Pháp phồn hoa, bao nhiêu tình thương cha mẹ đều dành hết vào người con duy nhất. Tuy nhiên từ nhỏ, cậu bé Jean Cassaigne đã mong muốn được dấn thân phục vụ tha nhân, chính xác hơn là trở thành một linh mục thừa sai bởi đã ngây ngất với nhiều cuốn sách của những vị “tiền bối” đi trước, trong đó “Hành trình và truyền giáo” của cha Ðắc Lộ là sách gối đầu giường. Những mẩu chuyện Á Ðông đã làm cậu bé say mê, nhất là hạnh tích các vị tử đạo tiên khởi Việt Nam.

Tròn 90 năm về trước, ngày 24.1.1927, ngài đặt chân đến Djiring, làm cha sở tiên khởi họ đạo Djiring (năm 1958, Djiring mới được đổi tên thành Di Linh). Vùng đất ngày đó là nơi cư ngụ của số đông đồng bào Thượng, trong đó đa phần người K’Ho.

Là người từng rất được Ðức cha quý mến, gắn bó với ngài gần 20 năm với nhiều trọng trách. Nhiều lần nghe Ðức cha chia sẻ những khó khăn khi vừa đặt chân lên Di Linh, nay ông K’Gih kể lại cho chúng tôi nghe: “Những ngày đầu ở đây buồn tẻ và cô đơn. Xung quanh nhà xứ toàn là rừng. Thánh lễ đầu tiên cha dâng trên vùng đất mới chỉ có bốn người tham dự. Vừa ở Pháp sang chưa đầy 8 tháng trước đó, thủy thổ chưa quen, một mình đơn độc, đảm nhiệm một thí điểm truyền giáo ở vùng đất xa lạ là cả một thử thách cho vị linh mục mới đụng chạm với đời mục vụ xa. Nhưng khó khăn không ngăn được dòng máu thừa sai chảy trong huyết quản. Ngay khi nhận xứ, chiều hôm đó cha đã tìm cách giao tiếp với cư dân bản địa, dù lúc này ngài chẳng biết tiếng Thượng, trong khi tiếng Việt chỉ bập bẹ”.

 

Cậu bé Jean Cassaigne ngày nhỏ

Lược sử giáo phận Ðà Lạt ghi nhận lại, sau 14 năm coi sóc xứ Di Linh, trước khi được tấn phong làm Giám mục địa phận Sài Gòn, từ hai tín hữu ban đầu là đôi vợ chồng rối, Ðức cha Cassaigne đã để lại một cộng đoàn lớn mạnh với gần 800 giáo dân, nhiều dự tòng chuẩn bị rửa tội, cùng khai sinh ra nhiều giáo xứ khác như Kala, Bắc Hội… Là vị thừa sai đặt nền móng cho công cuộc truyền giáo cho người Thượng tại GP Ðà Lạt.Vượt qua khó khăn về ngôn ngữ, về bệnh sốt rét rừng hoành hành 10 tháng 1 năm, thứ bệnh nhiều lần làm ngài kiệt quệ, để tìm đến con chiên của mình. Hằng tuần ngài mang gạo, muối vô rừng thăm bà con. Ngày đó tiếng K’Ho là thứ ngôn ngữ chỉ nói chứ chưa hề viết ra. Cha lần mò, sáng tạo cách phiên âm, và cuối cùng cho ra chữ viết của đồng bào khi xuất bản cuốn từ điển K’Ho - Pháp - Việt vào tháng 12.1929. Khi đã có chữ viết, cha bận bịu suốt ngày với chuyện dạy chữ cho lũ trẻ, mở lớp giáo lý tân tòng. Giữa một vùng tràn ngập bệnh tật, nhất là sào huyệt của bệnh sốt rét rừng, cha không thể ngồi yên khi thấy đàn con mình đau ốm không biết chạy chữa nơi đâu. Từ đây ngài “đóng thêm vai” “Cau dơng lơh sơnơm” (ông lớn làm thuốc) khi cả ngày đi hết chòi này sang chòi khác, buôn này sang làng kia, vai mang bị đựng những loại thuốc để giúp đỡ cho bà con. Tình yêu cứ vậy vun đắp, không kể nắng mưa, gian khó, hay bệnh tật.

Nhưng không chỉ lo về bệnh tật thông thường, cha Cassaigne còn quan tâm nhiều đến người mắc bệnh phong, một trong bốn thứ bệnh mà y học thời đó cho là khó chữa khỏi.

Chiếc giường của Đức cha vẫn còn tại Trại phong Di Linh - ảnh: Đình Quý

Vị tông đồ của người phong

Vốn đã có trên 40 năm sống và chăm sóc người phong tại Trại phong Di Linh, trong đó có 6 năm làm việc với Ðức cha Cassaigne, nữ tu Mai Thị Mậu - dòng Nữ Tử Bác Ái Vinh Sơn, năm nay ở tuổi 77, nói về bệnh phong : Thời bấy giờ, rất nhiều người mắc chứng bệnh này. Ðau đớn phần xác đã đành, tâm hồn họ cũng bị trọng thương bởi sự xa lánh của mọi người. Khi bệnh trở nặng, các vết ung thối bắt đầu lở loét thì dân làng đưa họ vào rừng, cất một túp lều tranh để họ ở lại đó một mình, sống chết ra sao mặc kệ. Người phong bị bỏ mặc cho định mệnh, cho đói khổ, và khi không còn sức kiếm ăn, nhất là khi chân tay đã bắt đầu cụt mất, họ sẽ gục ngã ở một xó kẹt nào đó rồi chết vì đói, vì lạnh, có khi làm mồi cho thú dữ.

“Suốt 47 năm dài (1926-1973), cha đã ở giữa các con, đã sống tại Việt Nam này và đã dâng hiến tất cả cho các con. Giờ đây cha không còn tiếc gì về sự dâng hiến toàn diện ấy. Việt Nam chính là quê hương thứ hai của cha, bởi vì Chúa muốn như vậy. Khi về với Chúa, cha vẫn ở với các con, các con đừng lo…”. Ðó là những lời sau cùng Ðức cha nói với các nữ tu và một số bệnh nhân thay phiên trực khi ngài trên giường bệnh.

Những nỗi thống khổ của người phong trên vùng đất Thượng vì thế thúc bách tâm hồn vị thừa sai trẻ tuổi, khiến ngài luôn nghĩ phải làm một cái gì đó cho những con người khốn khổ kia. Phải tập trung tất cả họ lại một nơi để tiện việc săn sóc và dạy dỗ lúc nào cũng được. Vậy nên, chuyện lập một làng phong được tiến hành.

Khu đất được chọn là khoảng đất trống dưới chân đồi, cách nhà xứ Di Linh chưa đến một cây số. Những chòi nhà sàn dựng lên, rồi người bệnh đơn độc từ khắp nơi được mời về chung sống tại đó. Tuy nhiên ngày đầu, việc làm này là một điều kỳ quặc, như chính Ðức cha Cassaigne đã đề cập trong buổi nói chuyện về người phong khi ngài làm Giám mục Sài Gòn : “Nó khiến cho trí óc mộc mạc của người Thượng đâm ra nghi ngờ. Họ không thể hiểu ông Ðờng nuôi nấng, chăm lo cho người cùi để làm gì. Người cùi thì càng ngờ vực hơn, vì có kẻ xấu mồm đã kháo láo rằng ông cha nuôi cùi cho mập để bán về Sài Gòn cho cọp sở thú ăn thịt. Câu chuyện gở lạ như vậy lại được nhiều người tin suốt thời gian hai tháng đầu, khiến nhiều người đã đến rồi lại trốn về vùng cũ. Nhưng sau một ít lâu, họ thấy những người cố lì ở lại với cha thì không những được nuôi ăn mà lại còn săn sóc tử tế, nhất là được yêu quý chiều chuộng, họ lại lục tục kéo trở về và tin đồn kia xẹp dần đi…”.

Nơi Đức cha Cassaigne an nghỉ. Cạnh nhà thờ, dưới chân tháp chuông, giữa đoàn con thân thương của mình - ảnh: Đình Quý

Ngày 11.4.1929, làng phong Di Linh chính thức thành lập với 21 bệnh nhân ban đầu và đông lên theo thời gian.

Lúc đầu, ông Bèp vừa Giám đốc, kiêm nhân viên băng bó, rửa ráy cho bệnh nhân. Cùng với đó là lo từng giấc ngủ, miếng cơm manh áo. Dù cùng lúc đảm đương nhiều công việc, trách nhiệm nào cũng nặng nề, nhưng vị thừa sai lại xem đó là quà tặng của Thiên Chúa, là ơn thiêng may mắn mình được nhận, như ngài từng nói: “Tôi là người hạnh phúc nhất trên đời… Tôi không thể nằm yên một bề lâu hơn 10 phút… Tràng hạt, sách nguyện, thánh lễ, ngồi ở lại đây, đau cực ở đây, chết chôn ở đây!”.

Gương nhân đức bạn của những người con bé mọn

Ngày 16.2.1940, Ðức Giám mục Sài Gòn Dumortier qua đời, và người được Tòa Thánh tuyển chọn kế vị là một linh mục của người phong sống tại Di Linh. Không muốn, cũng không bao giờ nghĩ tới nhưng cha phải vâng lời trong nước mắt chia biệt của cả cha lẫn con.

Trong suốt 14 năm coi sóc một giáo phận lớn, dường như tâm trí và trái tim của Ðức cha vẫn dành phần lớn cho những con người bị ruồng bỏ nơi chốn rừng sâu hoang vắng. Do đó, khi mới bước vào tuổi 60 (cuối năm 1955), lúc biết mình “được” bệnh phong, ngài đã xin nghỉ hưu và tình nguyện về lại Di Linh. Trong bức thư gởi cha bề trên Hội Thừa sai Paris ngày 5.3.1955, Ðức cha viết : “Tôi xin cha cho phép tôi nộp đơn từ chức sang Tòa Thánh và rút lui về Trại phong Di Linh, bên cạnh những con cái mà tôi yêu thương nhất và Chúa quyền uy, với lòng nhân ái vô biên, đã cho tôi được nên giống như họ”. Ngày 2.12.1955, Ðức cha Cassaigne trở về lại Di Linh. 14 năm xa cách là quãng thời gian quá dài để bao tình cảm của cha con như vỡ òa. Từ đây, ngài dành trọn phần đời còn lại để sống và phục vụ giữa những người con nơi trại phong.

Gắn bó với trại phong từ năm 1967 đến 2009, hình ảnh về vị Giám mục khó nghèo, đầy tình yêu thương luôn đọng lại trong tâm trí nữ tu Mai Thị Mậu, để khi có dịp hồi tưởng, bà say sưa kể: “Ngài là con người của sự khổ chế và tinh thần kỷ luật bản thân. Dù không ai đọc thời gian biểu nhưng biết chắc giờ đó Ðức cha đang làm gì. 4g sáng ngài thức dậy, tự đi đốt đèn, dọn đồ lễ, đánh chuông. Mặc dù có chú giúp lễ nhưng vì thương con nên cứ để chúng ngủ thêm chút nữa. Lễ xong dạy giáo lý rồi dùng điểm tâm. Ðiểm tâm của Ðức cha ngày qua ngày chỉ là ba miếng bánh mì khô cùng hộp sữa đặc ăn từ Chúa nhật tuần này đến Chúa nhật tuần sau. Các chị biết vậy vì khi để bánh và sữa vào hộp thì đã đếm trước canh ngày tiếp tục bỏ vô. Sau đó ngài đi thăm bệnh nhân và làm việc : đánh máy, làm sổ sách hay viết thư gởi ân nhân để có kinh phí mua gạo cho trại phong.

Bàn làm việc của Đức cha Cassaigne - ảnh: Đình Quý

11g15 ngài lái xe xuống xứ Kala, nơi các dì sống để ăn trưa. Bữa ăn chỉ có chén cơm nhỏ cùng một món duy nhất là nửa lạng thịt hay khúc cá nấu với vài loại rau rừng. Ðó vừa là món mặn, đồ xào, vừa là canh. Buổi tối thì củ cà rốt với vài củ khoai tây, xay ra, nấu chín, nêm thêm tí muối. Suốt bao nhiêu năm sống cùng, tôi thấy thực đơn ngày ba bữa chỉ có vậy, và do ngài quy định nhằm dành tiền mua gạo cho bệnh nhân. Chiều 2g đến 4g, Ðức cha dành thời gian cầu nguyện, chầu Mình Thánh Chúa, sau đó giải tội và lại tiếp tục xuống bệnh xá… Ðối với bệnh nhân, Ðức cha chiều chuộng hết sức. Tôi nhớ lần kia có người xuống xin các dì cái mền dù đang là mùa nóng, mọi người bảo họ đợi thêm tháng nữa để đến ngày phát chung cho tất cả, chứ cho sau này sợ thiếu. Người đó lên nhà ‘méc’ thì chính Ðức cha xuống xin thay: Thôi, lạnh nó cần, nó xin thì cho, ngày mai có Chúa quan phòng lo. Ngài yêu thương con cái từ những điều nhỏ nhặt như vậy”.

Dì Mậu cho biết thêm, cùng lúc Ðức cha mang trong mình bệnh phong, áp huyết cao, loét dạ dày, sốt rét rừng, loãng xương. Bệnh nào cũng nặng nhưng lúc nào cũng thấy ngài lạc quan.

Tháng 2.1973, Ðức cha bị ngã gãy xương bên đùi phải, và vết thương này khiến ngài trải qua gần 8 tháng liệt giường trước khi mất. Là người chăm sóc Ðức cha trong những ngày ấy, ông Ðinh Văn Cung luôn nhớ hình ảnh về người cha già hy sinh, chịu đựng : “Dù đau đớn nhưng không bao giờ ngài kêu van, đến khi cơn đau hành hạ thì chỉ nói khẽ Chúa ơi, Mẹ ơi, con đau. Còn lại không để người khác phải lo lắng vì mình. Tôi còn nhớ trước đó, khi còn khỏe ngài rất hay sang thăm nhà, mỗi lần vậy hai đứa con của tôi lại ngồi lên đùi. Vợ chồng tôi hỏi Ðức cha sau này lớn lên để chúng nó làm gì, ngài chỉ cười, đồng thời không quên nhắc nhở lo cho các con học hành. Bây giờ cha con tôi vẫn hay nhắc lại những kỷ niệm đẹp đó mỗi khi gặp nhau”, ông Cung nói trong nghẹn ngào.

Ngày 31.10.1973, một ngày cuối tháng Mân Côi, Ðức cha Jean Cassaigne đã an nghỉ trong Chúa. Theo nguyện vọng lúc còn sống, ngài được an táng cạnh nhà thờ, dưới tháp chuông, để luôn luôn hiện diện giữa đoàn con thân thương của mình.

Ngài xa vắng tới nay đã 45 năm nhưng trong tâm trí những người tại trại phong, hình ảnh “Bèp Cách Xành” chưa bao giờ phai nhòa. Mỗi ngày đi lễ, mọi người không quên ghé lại phần mộ để đọc kinh, cắm lên nhành hoa rừng tỏ lòng tôn kính. Với bà con, ngài vẫn ở lại Di Linh mãi mãi!

 

Mỗi khi được dịp kể về người Thượng, Ðức cha Cassaigne nói rất nhiều, nói thỏa thích, khiến người đối diện muốn nghe hoài, như trong bài thuyết trình về người Thượng tại Sài Gòn ngày 3.1.1943, ngài đề cập : “Quý vị muốn biết về người Thượng của tôi à? Họ là những người chất phác hiền lành, mà hay nhút nhát. Tâm hồn họ hết sức đơn giản, đơn giản y hệt cách ăn mặc của họ, nghĩa là suông tuột từ trên xuống dưới, không cần che đậy gì cả. Có người coi họ là man di vì họ có cách ăn mặc khác lạ, hơn nữa vì họ ăn uống nghèo nàn, nhưng tình thật mà nói, cái man di mọi rợ của họ ở vài phương diện còn hơn cả cái lề lối văn minh của ta…”. Còn khi nhắc đến lối sống tự do, không lo nghĩ về ngày mai của người sắc tộc thì Ðức cha nói một cách dí dỏm và hài hước : “Nói rằng người Thượng của tôi không làm gì hết thì hơi quá đáng. Họ bận lắm, không có thì giờ. Người Thượng bận đi chỗ này chỗ kia, bận tán gẫu dông dài, nói bá xàm bá láp, bận suốt ngày suốt đêm để nhắm rượu cần, bận săn, bận câu, bất kể giờ giấc, bận cúng Yàng, bận ma chay lễ vái kiêng kỵ tỉ mỉ theo lề thói từng nét một, bận làm một vài cái thủ công lặt vặt, rồi nếu có dư thời giờ ra…, lúc đó mới đi làm việc. Lại nữa, nhu cầu của họ có gì nhiều đâu mà làm chi cho mệt. Ðất cao nguyên phì nhiêu phong phú, rừng núi thiên nhiên là cả một kho thực phẩm vô tận, không cần lo nhiều cũng có cái ăn hoài hoài. Thế thì có gì nữa đâu mà làm, chỉ còn làm… biếng vậy thôi”.

 

VÕ QUỚI

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm