Thứ Sáu, 15 Tháng Bảy, 2016 06:27

Ông cha vùng biên “lấm mùi chiên”

Ở tuổi 70, nhiều người vẫn thấy cha ngược xuôi đó đây trên chiếc Future cũ kỹ để dâng lễ, thăm viếng bà con... Nhắc đến cha, ngoài đôi điều về lối sống bình dị, cung cách dễ gần, điểm ấn tượng hơn cả là mối thâm tình, gắn bó với các tôn giáo bạn trong suốt cả cuộc đời.

“PHÓ NHÁY” NÚI SAM

Vị mục tử ấy là cha Phêrô Lê Trọng Hải, hiện coi sóc giáo xứ Tri Tôn (huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang), một linh mục gốc Bắc nhưng đã “bén duyên” với các xứ đạo miền núi xa xôi của địa phận Long Xuyên từ nhiều năm trước. Tới đây từ thuở tóc còn xanh, nay mái đầu ấy đã bạc phơ, dáng đi không còn kiên vững. Nghiền ngẫm quãng đời dấn thân bao năm, ông cố già vùng quê bất giác mỉm cười vì những dấu ấn khó phai, đong đầy xúc cảm.

Tháng 8.1976, khi 29 tuổi, cha Hải (lúc này còn là thầy) về giúp xứ Châu Đốc và biệt cư ở Núi Sam, một họ lẻ của Châu Đốc với khoảng 100 giáo dân. Giữa hoàn cảnh khó khăn lúc bấy giờ, trong lúc chờ ngày được chịu chức, cha vừa lo nhà Chúa vừa cật lực lao động để lo cho cuộc sống. Trồng mía, trồng khoai, làm ruộng, ép mía, đào kinh..., chẳng quản gian lao, nhọc nhằn. Ngay công việc chạy xe đạp ôm, cha cũng đã trải. Vóc người vốn thấp bé, ốm yếu nên gặp phải khách “đô” con, vạm vỡ, cha nửa đùa nửa thật: “Ông chở tui nha, có gì bớt cho”. Thời gian thoi đưa, năm 1980, một lần qua chùa Bà Chúa Xứ và núi Sam (Châu Đốc), cha thấy người đi tham quan, khấn vái, tạ ơn khá đông nhưng thợ chụp hình lại lèo tèo, thưa thớt... nên ý nghĩ chuyển sang làm “phó nháy” chợt nảy ra.

Trước đó, lúc còn là sinh viên trường Đại học Văn khoa Sài Gòn, cha từng tham gia khóa học nhiếp ảnh với mục đích đơn giản là mỗi khi đi chơi sẽ có tấm hình đẹp làm kỷ niệm, không ngờ có ngày đó lại là kế kiếm sống. Thế rồi, chuẩn bị xong xuôi những dụng cụ cần thiết, cha hành nghề. Dấn bước vào công việc mới, người tu sĩ mau chóng thích nghi với nhịp đời của một phó nháy. “Có thời bọn tôi chụp mẫu vài bức hình và đặt tên là cảnh Mùa thu lá bay, Lâu đài tình ái, Biệt thự tình yêu... để làm phông nền giới thiệu với khách. Đến tháng mưa, không đầu hàng thời tiết, chúng tôi lại bật ra ý tưởng mua cái dù đưa khách cầm, coi như để tạo dáng, dựng cảnh mới lạ”, cha hồi tưởng về những ngày cầm máy “đi câu” của mình, quãng thời gian vun đắp cho cha nhiều trải nghiệm cuộc sống.

Lúc ấy, một pô hình có giá từ 1.000- 1.500 đồng, cơm thì 1.500- 2.000 đồng/phần nên chụp 2- 3 tấm là sống được cả ngày. Tưởng chừng dễ dàng nhưng kỳ thực phải trầy trật, chịu khó luôn. Giọng khàn khàn, cha bùi ngùi kể: “Người ta truyền nhau câu thơ ‘Núi Sam có bốn cái ‘kè’/ Ăn xin, vé số, bán nhang, chụp hình’. ‘Kè’ tức đi theo kế bên để mời mọc, chèo kéo khách nên nghe tủi thân, chua xót lắm. Họ coi thường cái nghề mưu sinh này. Có người nhận ra tôi là thầy Sáu bèn tỏ ra ái ngại, hỏi tại sao lại vậy, tôi cười nói gọn: Nghèo mà! ”. Hiểu hoàn cảnh chật vật của một chủng sinh đã học xong Chủng viện nhưng do thời cuộc nên chưa được thụ phong linh mục, phải bươn chải ngoài đời, các giáo xứ có lễ hôn phối, thêm sức hay giáo phận tổ chức hoạt động, lễ trọng gì đều nhờ ông “thầy- thợ” tới chụp hình như một cách nâng đỡ chàng trai ngoài 30 tuổi duy trì ước vọng dấn thân.

Mái tóc đã bạc phơ nhưng lửa dấn thân vẫn cháy đều như ngày nào

Trở lại chuyện làm nghề thuở ấy, cha kể biết cha đi tu và có chuyên môn kỹ thuật, các đồng nghiệp thêm phần nể nang, dành nhiều ưu ái. Còn cha thì tận tình sửa chữa máy giúp anh em mỗi khi gặp trục trặc, sốt sắng chỉ họ nên chụp góc nào, điều chỉnh các thông số ra sao chứ không giấu nghề. 11 năm rong ruổi cầm máy ảnh trong bộn bề của xã hội, lửa ơn gọi trong cha vẫn bền bĩ cháy sáng. Bao khó khăn không làm vị mục tử ngả nghiêng trước chọn lựa bấy lâu.

Và, hạnh phúc rồi cũng mỉm cười; sự chờ đợi, ấp ủ rồi cũng đến ngày đơm hoa: năm 1991, cha được chịu chức linh mục. Ngày trọng thể hôm đó, nhiều người sửng sốt khi thấy khoảng 50 thợ chụp hình tới dự lễ, mà hầu hết đều không có đạo. Rất cảm động trước tấm lòng của các bằng hữu, song cha cũng thiệt tình xin họ chỉ vài chiến hữu “tác nghiệp”, chứ ai cũng chụp thì rửa không xiết mà còn trùng nhau. Tận hôm nay, cha vẫn nhớ như in và quý trọng tình cảm của những đồng nghiệp một thời dành cho mình, cũng như nét độc đáo trong buổi lễ thụ phong.

TỨ HẢI GIAI HUYNH ĐỆ

Núi Sam, Chi Lăng và Tri Tôn là ba giáo xứ cha Hải coi sóc sau ngày nhận chức thánh. Tri Tôn cách Núi Sam 43 cây số, đường sá xa xôi, gồ ghề không làm khó bước chân người mục tử vì tình yêu trót mang với người nghèo và người dân tộc vùng biên giới. Cha cảm mến sự đơn sơ, chân thành nơi những gương mặt lao động lam lũ. Năm tháng sống giữa dòng đời đã gieo vào lòng cha sự thấu hiểu, cảm thông sâu sắc với họ. Song song mối cảm tình này, sự gắn bó, chan hòa với tôn giáo bạn cũng ngày càng triển nở, quyện chặt.

Ngày còn nhỏ, trong một chuyến tham quan do trường tổ chức, chứng kiến hình ảnh một chú tiểu ở chùa Hang (Châu Đốc) tỏ lòng bao dung, đứng ra nói đỡ cho các học sinh lớp trên khi họ trộm mít và bị phát hiện, cha thầm khâm phục cách ứng xử đầy độ lượng. Ấn tượng đẹp về người nhà Phật bắt đầu từ ấy. Về sau, cha nhiều lần ghé thăm chú tiểu năm xưa (nay đã là Hòa thượng Thích Thiện Chơn- trụ trì chùa Hang). Mặt khác, với 11 năm cắm rễ trường kỳ tại núi Sam để chụp hình, cha có dịp làm quen và kết thân với nhiều sư sãi ở các chùa quanh vùng. Ai cũng thương, cũng mến nên nhà chùa có lễ lạy, cúng kiếng gì đều mời anh “phó nháy” tới dự.

Các tôn giáo cùng đan tay duy trì nếp hoà thuận đoàn kết

Về Tri Tôn, tinh thần khắng khít liên tôn lại được cha tiếp nối, phát huy. Tại huyện miền núi giáp ranh Campuchia có 36 ngôi chùa Phật giáo Tiểu thừa, 8 chùa Phật giáo Đại thừa, 36 chùa Tứ Ân Hiếu Nghĩa và một thánh thất Cao Đài... Chính vì thế, ngoài tiếng chuông nhà thờ còn có lời tụng kinh, tiếng gõ mõ, nhịp chuông chùa trầm bổng đan xen. Khoảng năm 1992, cha nhận lời quản dùm chùa Bửu Sơn ở núi Cấm (huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang) sau khi người xây cất là bác sĩ Trương Kế An qua đời. Vậy nên, việc một linh mục thường xuyên thăm nom, trông coi tu sửa ngôi chùa đã tạo sự hiếu kỳ, ngạc nhiên cho khắp vùng lúc bấy giờ. Được hơn 14 năm, cha giao lại ngôi chùa cho Giáo hội Phật giáo.

Sống kề nhau trên xứ sở của loài cây thốt nốt, các tôn giáo cùng đan tay duy trì nếp hòa thuận, đoàn kết vì quan niệm mọi người là anh em một nhà. Dịp Tết hay mừng thọ của các vị trụ trì, Hòa thượng, cha đều tới chúc mừng. Khi có ai qua đời thì chung tay tổ chức đi viếng, chia buồn... Ngày rằm, cúng đình, giỗ chùa, hễ nhận được lời mời, ít khi cha vắng mặt và đồng bàn với các nhà sư, đạo hữu bên mâm cơm chay. Về phía mình, lễ Giáng sinh hoặc bổn mạng giáo xứ, cha lại nhớ mời các vị tham dự. Hay gặp gỡ và là bạn lâu năm của vị quản xứ, sư trụ trì Thích Tôn Quảng (chùa Bửu Sơn) tâm tình: “Nếu Chúa Giêsu truyền dạy điều yêu thương thì Đức Phật cũng nói nhiều về lòng từ bi hỉ xả. Đó là mấu chốt trọng yếu đã nối kết chúng tôi xích lại luôn mãi, vì bác ái như chất keo có tác dụng kết dính mọi người”.

Đã nhiều năm, mỗi lần nhận được ký gạo, thùng mì, bao quần áo cũ của ai đó gởi tặng, cha hằng nhớ san sẻ cho bà cả bà con lương dân. Còn các chùa thường biếu nhà thờ gạo, nước tương, nhất là vào tháng hè vì biết giáo xứ có lệ nấu cơm trưa cho thiếu nhi tới học giáo lý. Chưa hết, những chức sắc Cao đài, Phật giáo nhiều lần đứng ra làm cầu, đường đi chung hay hỗ trợ giáo dân xây cất nhà mới. Nghĩa tình nhờ vậy thêm đậm đà, thắt chặt hơn qua thời gian.

Trời chiều, tiếng nhạc ngũ âm ở chùa Ô Tà Lây cách nhà thờ Tri Tôn 1 cây số vang lên dìu dặt. Lắng nghe âm thanh khoan thai, chúng tôi lại nghĩ về cha, một tu sĩ kiêm “phó nháy” đã sống và làm chứng mạnh mẽ cho tinh thần liên tôn. n

GIÁNG HƯƠNG

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm