Thứ Năm, 09 Tháng Bảy, 2020 18:08

Thư Chung 1980 là một cái mốc quan trọng, hữu ích, cần thiết, đúng lúc, đánh dấu một chặng đường lịch sử

 

Nhìn lại lịch sử Giáo Hội Việt Nam, tôi thấy có nhiều cái mốc quan trọng. Chúng cần được coi là dấu ấn. Trong những cái mốc “dấu ấn” đó, phải kể đến Thư Chung của Hội đồng Giám mục Việt Nam năm 1980.

Tôi được may mắn có mặt trong quá trình soạn thảo, bàn bạc và quyết định văn kiện lịch sử đó. Sự hiện diện của tôi thực là bé nhỏ. Năm 1980, tôi là một trong những giám mục mới và trẻ nhất của HÐGMVN. Tôi xin chia sẻ đôi chút về tâm trạng của tôi lúc ấy.

Thư Chung 1980 hoàn toàn nhắm mục đích đổi mới mục vụ. Không có chút nào gọi là đối phó. Từ đầu đến cuối thư, chỗ nào cũng toát ra một đức tin vững bền và một tinh thần yêu thương thanh thản.

Tôi xin kể ra sau đây một số điểm chính yếu:

Mục vụ trong thời kỳ mới có tính cách giới thiệu Thiên Chúa và Giáo Hội. Giới thiệu, chứ không áp đặt. Giới thiệu một cách khiêm nhường qua cách sống của mọi thành phần Giáo Hội.

Cuộc sống của họ là một sự tuyên xưng và làm chứng cho “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4,8) theo đức tin từ Phúc Âm do Hội Thánh dạy.

Một cuộc sống như vậy cần phải được nung nấu trong Lời Chúa, bí tích và phục vụ. Ðức tin lúc ấy sẽ là một gặp gỡ với Chúa Giêsu. Một gặp gỡ sống động, riêng tư. Trong gặp gỡ ấy, họ nhận ra Thiên Chúa là tình yêu.

Từ Thiên Chúa là tình yêu, người tín hữu sẽ làm chứng cho Chúa bằng một đức mến cao đẹp phát xuất từ một đức tin siêu nhiên nhận được từ Chúa.

Khi được gặp các Ðức Giám mục từ khắp nơi trên đất nước Việt Nam quy tụ  về  thủ  đô lần đầu, tôi được nghe các ngài kể ra những hoàn cảnh phức tạp và những trường hợp đầy khó khăn, mà các ngài đã và đang gặp. Tôi ngạc nhiên và cảm động, thấy tất cả các ngài đều có những phản ứng bình tĩnh.

Hội Thánh Việt Nam càng ngày càng có những dấn thân thiết thực

Một sự bình tĩnh của đức mến, một đức mến đầy chế ngự, khao khát được thấy xã hội và Giáo Hội mình đổi mới theo ơn Chúa. Thái độ của các ngài nói lên đức tính khôn ngoan và can đảm của đức tin dấn thân.

Tiếp xúc với những vị chủ chiên phong phú tinh thần chế ngự tu đức Phúc Âm, tôi nhớ tới Ðức Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse. Hai Ðấng đã bảo vệ Chúa Giêsu bằng những chọn lựa khiêm tốn, khó nghèo và đầy chịu đựng, chế ngự. Hội Thánh của Chúa cũng được tiếp tục bảo vệ và phát triển nhờ những chọn lựa như thế. Hiệu quả sau cùng là những mùa gặt thiêng liêng phong phú.

Soạn một Thư Chung bao giờ cũng phải cân nhắc, suy nghĩ, tra cứu, bàn hỏi, cầu nguyện. Thư Chung năm 1980 càng phải thế. Thêm vào đó là tinh thần tỉnh thức.

Tỉnh thức là biết lắng nghe Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần nói qua nhiều ngả, như qua các dấu chỉ thời đại, qua các kinh nghiệm, qua những đóng góp. Nơi mà người ta phải đợi, nghe Chúa Thánh Thần nhiều nhất, chính là nơi cầu nguyện và yêu thương. Các Ðức Giám mục của chúng ta năm 1980 đã sống trong bầu không khí cầu nguyện và yêu thương. Các vị rất khác nhau về tuổi tác, về trình độ, về hoàn cảnh, về kinh nghiệm, nhưng tất cả đều kính trọng nhau, nương tựa vào nhau. Bầu khí ấy giống như bầu khí đã trùm phủ các tông đồ xưa ngày lễ Ngũ Tuần. Chính trong bầu khí cầu nguyện và yêu thương đó, cùng với sự nâng đỡ của toàn Hội Thánh Việt Nam, Chúa Thánh Thần đã  hướng dẫn các giám mục hình thành một bức Thư Chung rất quan trọng.

Từ Thiên Chúa là tình yêu, người tín hữu sẽ làm chứng cho Chúa bằng một đức mến cao đẹp

Thư Chung ấy đã đem lại sự an tâm cho người Công giáo tại Việt Nam, cho dù còn  gặp nhiều khó khăn. Sự an tâm ban đầu ấy đã mở đường cho một lối sống cởi mở.

Thư Chung ấy cũng đã làm cho những người trước đây ác cảm với Công giáo dần dần có thiện cảm với đạo ta.

Thư Chung ấy cũng là một cái mốc lịch sử, đổi mới tình hình. Chính Ðức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI cũng đã nhắc lại cái mốc ấy trong bài diễn văn đọc trong buổi triều yết ngày 27.6.2009 tại Vatican dành cho các Ðức Giám mục Việt Nam đi Ad limina.

Tôi vui mừng nhận thấy Hội Thánh Việt Nam càng ngày càng có những dấn thân tế nhị và can đảm, dưới sự hướng dẫn của đức tin và đức mến.

Hai nhân đức ấy là nguồn ánh sáng và là nguồn sức mạnh của chúng ta. Nhờ đó, chúng ta có những dấn thân sáng tạo, nhưng luôn kết hợp chặt chẽ với Tòa Thánh, luôn hiệp thông với nhau, cũng như luôn tha thiết phục vụ trong lòng dân tộc. Vừa biết cho đi và vừa biết lãnh nhận.

Do vậy, tôi thiết nghĩ Thư Chung 1980 là một cái mốc quan trọng, hữu ích, cần thiết, đúng lúc, đánh dấu một chẳng đường lịch sử. Tuy nhiên nó không có tham vọng nói thay cho tất cả lịch sử.

Hiện tại và tương lai của lịch sử có những phức tạp và gay gắt mới. Tôi hy vọng Hội Thánh Việt Nam chúng ta, sẽ biết nhờ ơn Chúa, để có những bước đi mới cần thiết, có sức xây dựng niềm tin cho giai đoạn khó khăn khó lường của lịch sử đang tới.

Xin cảm tạ Chúa. 

ÐGM GB. Bùi Tuần

“...Hàng Giáo phẩm địa phương được tạo lập vào một thời điểm mà Việt Nam bị chia cắt trên bình diện chính trị, và điều đó đã kéo theo những hậu quả sâu đậm trong nhiều lãnh vực của xã hội trên đất nước chúng con. Phải chờ đến năm 1980, sau khi hai miền Nam, Bắc thống nhất vào năm 1975, Hội đồng Giám mục của cả nước Việt Nam mới được khai sinh. Với biến cố lịch sử này, Giáo hội tại Việt Nam bước vào một giai đoạn hoàn toàn mới mẻ trong lịch sử của mình. Giáo hội tại đây đứng trước một khúc ngoặt mới, đặt ra cho Giáo hội một đòi hỏi là, hơn bao giờ hết, phải lớn lên trong đức Tin, phải xây dựng chính mình trong đức Mến, và phải dấn thân cách quyết liệt hơn nữa vào công cuộc Phúc Âm hóa thế giới dưới sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, Ðấng khơi dậy lòng Cậy Trông. Hiện nay chúng con đang triển khai mọi nỗ lực của chúng con trong không gian được định hình bởi ba chiều kích hướng thần ấy...”

(Trích diễn văn của Ðức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Chủ tịch HÐGMVN với Ðức Thánh Cha Bênêđictô XVI, ngày 27.06.2009, dịp Ad limina 2009)

 

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm