Thứ Năm, 09 Tháng Bảy, 2020 18:56

Tìm hiểu đường hướng mục vụ của Thư Chung 1980

 

Thư chung năm 1980 có một câu nổi tiếng, được nhiều người biết đến, đến nỗi đã trở thành như một khẩu hiệu. Câu đó là: “sống Phúc Âm giữa lòng Dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”. Người ta đã có lý mà coi đó là tiêu biểu cho thư chung, bởi vì chính các giám mục đã tóm tắt vào đó đường lối mục vụ của mình, ở cuối số 14 trước khi qua phần kết luận; ở số chót, số 15. Vậy tìm hiểu câu nổi tiếng này hẳn là cách tốt nhất để tiếp cận thư chung và có hy vọng đi vào trọng tâm của thư chung.

 

Nếu phải tìm một dấu hiệu tiêu biểu thì chính Chúa Kitô đã cho chúng ta biết: đó là bác ái, yêu thương

 

I. SỐNG PHÚC ÂM

Trước hết chúng ta nên lưu ý rằng các Giám mục đã nói “sống Phúc Âm”, mà không nói “sống đạo”, lại càng không nói “giữ đạo”. Thư Chung dùng đến 9 lần danh từ Phúc Âm, một lần danh từ Tin Mừng (đồng nghĩa với Phúc Âm) và chỉ một lần duy nhất nói tới “phép đạo” khi nhắc nhở các tín hữu phải xây dựng gia đình theo phép đạo (số 12). Chắc hẳn không phải là tình cờ. Nói “sống đạo” cũng rất đúng, nhưng danh từ “đạo” thường gợi lên một cơ cấu, tổ chức, những luật lệ tôn giáo và luân lý, cũng như những hành vi phụng tự. Còn danh từ Phúc Âm thì bao trùm hơn và sâu xa hơn.

Mối bận tâm đầu tiên của Chúa Giêsu không hẳn là lập ra một tôn giáo theo như chúng ta thường quan niệm, nhưng là rao giảng Tin Mừng, rao giảng lời hồng phúc (Phúc Âm) về Nước Thiên Chúa. Người mở đầu cuộc đời hành đạo với lời kêu gọi: “Hãy hoán cải và tin vào Tin Mừng (Phúc Âm)!”, và: “Hãy hoán cải vì Nước Trời đã gần đến!”. Chính Ðức Kitô là Phúc Âm, là Tin Mừng. (“Này tôi báo cho anh em một Tin Mừng vĩ đại: hôm nay Ðấng Cứu Thế của anh em đã ra đời”).

Nước Thiên Chúa (hay là Nước Trời) đã đến trong bản thân Ðức Giêsu. Phải tin nhận Người và thay đổi đời sống theo các đòi hỏi của Người. Cuộc đổi đời diễn ra theo ba trục lớn: quan hệ với Thiên Chúa mà người ta phải yêu mến, tin tưởng như là một người cha; quan hệ với tha nhân mà người ta phải coi như anh em cùng một nhà; quan hệ với thế giới vật chất mà người ta phải đón nhận như một quà tặng của Cha trên trời phải làm chủ nó trong tinh thần trách nhiệm để tôn vinh Thiên Chúa và để phục vụ con người.

Dĩ nhiên thay đổi đời sống (hoán cải) theo tiêu chuẩn Phúc Âm trong ba mối quan hệ đó, bao hàm một số những bổn phận tôn giáo và luân lý. Nhưng đời sống theo Phúc Âm không thể chỉ giản lược vào một số những bổn phận nhất định mà luật lệ nêu ra rõ ràng. Ðạo của Chúa Kitô không bao giờ chỉ là kinh, lễ. Ðạo của Người là trọn một cuộc sống. Là một tinh thần xâm nhập vào toàn bộ cuộc đời. Nếu phải tìm một dấu hiệu tiêu biểu thì chính Chúa Kitô đã cho chúng ta biết: đó là bác ái, yêu thương.

Thư Chung chọn kiểu nói sống Phúc Âm thay vì sống đạo hoặc giữ đạo là có dụng ý.

Vì chính Chúa Giêsu là Phúc Âm (Tin Mừng), cho nên sống Phúc Âm trước hết là gắn bó với Người (xem số 8), sống chết với Người, là noi gương Người, thể hiện tinh thần của Người một cách sáng tạo trong toàn diện cuộc đời mình (sự sống nào mà lại không sáng tạo?).

Ngày nay ở châu Âu, là một xã hội bị ảnh hưởng đậm bởi tình trạng trần tục hóa (sécularisation), số người Công giáo giữ đạo, nghĩa là đọc kinh, xem lễ, lãnh nhận các bí tích… giảm sút nhiều. Nhưng khó có thể quả quyết rằng như thế là đã bỏ đạo hoặc không còn sống đạo chút nào nữa. Một số người ngoại quốc hoặc Việt kiều về nước nhận xét rằng, đại đa số người Công giáo Việt Nam giữ đạo sốt sắng, nhưng đó là một tôn giáo thiên về phụng tự, về các bí tích và ít quan tâm đưa tinh thần Chúa Kitô vào trong đời sống cụ thể, ở gia đình, ngoài xã hội; ít chú tâm sống Lời Chúa trong “đời thường”. Họ nhạy cảm đối với những gì trực tiếp đụng tới Thiên Chúa và Giáo hội của mình, nhưng có thể rất lơ là với những gì đụng tới con người. Trong lúc đó thì người Kitô hữu châu Âu, có khi khô khan kinh lễ, nhưng lại có thể sẵn sàng hy sinh dấn thân vì con người, dấn thân cho công bằng, tình liên đới, cho các vấn đề quyền con người.

Chắc hẳn các giám mục chúng ta không có ý khuyên ta nên bỏ bớt kinh lễ và gia tăng dấn thân vì con người. Một cuộc sống dấn thân đích thực theo Phúc Âm, phải phát xuất từ cuộc sống gắn bó mật thiết với Chúa trong nguyện cầu như chính Chúa Giêsu đã nêu gương. Nhưng chính thái độ hết sức nghiêm khắc của Người đối với những tín hữu Do Thái - rất nhiệt thành với các nghĩa vụ tôn giáo nhưng lại kiêu căng, ích kỷ và vô tâm với con người - thật đáng cho ta suy nghĩ.

Thư Chung đã có một mối quan tâm đặc biệt giúp người Công giáo mở rộng “đạo” ra, trùm lên toàn bộ cuộc sống cá nhân và xã hội. Trong tập giáo lý “Tôi vui sống” của Ðức TGM Philipphê Ðiền (1976) và trong lá thư của Ðức TGM Phaolô Bình về người Công giáo đi vùng kinh tế mới, dễ nhận thấy rõ mối lo âu ấy.

Thư Chung viết:

Sứ mạng của Hội Thánh không những là đem Phúc Âm và ân sủng của Chúa Kitô cho nhân loại, mà còn đem tinh thần Phúc Âm thấm nhuần và hoàn thiện những thực tại trần thế. Không có sinh hoạt nào của con người lại xa lạ với sứ mạng của Hội Thánh, và ngược lại không có sinh hoạt nào của Hội Thánh không liên quan tới tất cả cuộc sống con người”. (số 7).

Hậu quả là:

Ðối với người tín hữu, xao lãng bổn phận trần thế tức là xao lãng bổn phận đối với tha nhân, và hơn nữa đối với chính Thiên Chúa, khiến phần rỗi đời đời của mình bị đe dọa” (số7). Câu cuối cùng này là trích từ Hiến chế Mục vụ của Công Ðồng Vatican II; nếu không phải là của Công Ðồng, chắc hẳn nhiều người Công giáo đã phản đối hoặc nghi ngờ. Hiến chế Mục vụ quả quyết rằng “sự phân ly giữa đức tin mà họ tuyên xưng và cuộc sống thường nhật của nhiều người phải được kể vào số những sai lầm trầm trọng nhất của thời đại chúng ta” (MV số 43).

Công Ðồng tố cáo một đời sống tôn giáo bị giới hạn vào việc phụng tự, cũng như một quan niệm hẹp hòi về phần rỗi hoàn toàn thiêng liêng. Công Ðồng cũng dạy cần phải vượt qua khỏi thứ luân lý cá nhân chủ nghĩa. Cơ sở của giáo lý này là mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể.

Các giám mục chúng ta càng có lý do để đề cao nền linh đạo Nhập thể, bởi vì ở Việt Nam, các khuynh hướng chung nơi giáo dân, kể cả nơi một số đông giáo sĩ, là phân chia rành rọt đạo với đời, sinh hoạt tôn giáo với sinh hoạt trần thế, Giáo hội với thế giới, nhất là khi cái thế giới đó nằm ngoài tầm tay của Giáo hội hoặc thù nghịch với Giáo hội. Ngay cả hiện nay, các lời kêu gọi, lời rao giảng và những lời “mạc khải” (?) được hâm mộ vẫn thường là những lời động viên lần chuỗi, kính thánh Giuse, cầu cho các linh hồn mồ côi…, nghĩa là nặng về phụng tự hơn cuộc sống thường nhật. Phải chăng vì cuộc sống xô bồ và khó khăn, căng thẳng nên người ta muốn tìm một không gian tôn giáo riêng để tạm thời lẩn tránh nó? Dù sao “sống đạo giữa đời”, “sống Phúc Âm” và “nên thánh trong các phận vụ trần thế” vẫn khó khăn hơn là làm một số việc đạo đức và tuân theo một số luật lệ rõ ràng.

Với chủ trương “sống Phúc Âm giữa lòng Dân tộc”, các giám mục chúng ta muốn vượt qua một quan niệm hẹp hòi về đạo và giúp mỗi người tiếp tục sống đạo một cách tích cực, lạc quan trong hoàn cảnh mới. Năm 1977, trong lá thư ngỏ gởi Hiệp hội Quốc tế các Bề trên thượng cấp Dòng nam và Dòng nữ, giới tu sĩ thành phố Hồ Chí Minh đã viết: “Tin Mừng không cần một mảnh đất riêng để sống”. Không cần đất riêng, nhưng bao giờ cũng cần có đất, mà mảnh đất ấy, mảnh đất cụ thể đối với Giáo hội chúng ta là “cộng đồng dân tộc”.

II. GIỮA LÒNG DÂN TỘC

Người ta sinh ra, sống, chết…, hoàn thành cuộc đời mình luôn luôn từ những vị trí nhất định. Chúng ta hiểu vị trí theo nghĩa của các nhà triết học ngày nay về con người. Phái tính, gia đình, quê hương, xã hội, nòi giống, văn hóa, thời đại… đều là những vị trí. Ðó không phải là những yếu tố thêm vào cho tôi, nhưng là những cái góp phần làm nên tôi.

Bây giờ nói “Sống Phúc Âm giữa lòng Dân tộc” là nói tới một vị trí hết sức quan trọng song thật ra cũng không phải là tất cả. Còn nhiều vị trí khác. Tôi sống Phúc Âm trong lòng dân tộc, dĩ nhiên rồi, vì tôi còn có thể sống ở đâu khác khi tôi đang hít thở, đang lao động, yêu thương, hy vọng, đau khổ… trên quê hương này, như một người Việt Nam ở một “vị trí” nhất định? Nhưng dân tộc Việt Nam của tôi còn nằm trong cộng đồng các dân tộc châu Á, và hơn nữa trong cộng đồng nhân loại…

Tuy nhiên Thư Chung của các giám mục đã có lý rất mạnh để nhấn vào yếu tố dân tộc.

THẾ NÀO LÀ GẮN BÓ VỚI DÂN TỘC

Dưới mục đề “Gắn bó với Dân tộc và Ðất nước” (số 9), Thư Chung 1980 viết rằng người Công giáo phải hòa mình vào cuộc sống hiện tại của Ðất nước, phải đồng hành với Dân tộc, cùng chia sẻ một cộng đồng sinh mệnh với dân tộc mình. Vậy hòa mình, đồng hành, chia sẻ vận mệnh của dân tộc, đó là những thái độ khác nhau của lòng gắn bó đối với quê hương, đồng bào. Nhưng một cách cụ thể hơn, các số tiếp theo của Thư Chung sẽ xác định gắn bó có nghĩa thiết thực là gì? Ðó là bảo vệ và xây dựng Tổ quốc (số 10) và xây dựng trong Hội Thánh một nếp sống và một lối diễn tả đức tin phù hợp hơn với truyền thống dân tộc (số 11). Số 12 còn giải thích thêm: đó là góp phần xây dựng đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc; đó còn là phát triển những đức tính của người công dân tốt, nhất là ý thức về chân lý và công bình và tinh thần sẵn sàng phục vụ lợi ích của Tổ quốc.

Những tư tưởng trên cũng đã được diễn tả trong Thư Chung của các Giám mục hai giáo tỉnh Huế và Sài Gòn năm 1976, và so với Thư Chung 1980 thì Thư Chung 1976 còn tỏ ra mạnh mẽ hơn.

Có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng: tất cả những ai mong muốn cho Giáo hội Việt Nam có một chỗ đứng trong xã hội mới để tiếp tục sứ mạng loan báo Tin Mừng một cách chủ động, thay vì làm một Giáo hội thầm lặng, đều có cùng một cảm nghĩ như nhau, là Giáo hội không thể đứng ngoài, đứng bên lề đời sống của dân tộc Việt Nam sau ngày 30.4.1975.

Ðức Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình, trong tâm thư ngày 5.5.1975 cũng thế: … “Cùng với toàn thể đồng bào, chúng ta hãy hân hoan chào mừng nền hòa bình và độc lập mà hết mọi người yêu nước hằng chờ đợi… Hơn mọi lúc, giờ đây người Công giáo phải hòa mình vào nhịp sống của toàn dân, đi sâu vào lòng dân tộc… Một mặt chúng ta phải nỗ lực tối đa góp phần vào công cuộc hòa giải và hòa hợp dân tộc, phát động tình thương, sự hiểu biết, lòng tha thứ và quảng đại… Mặt khác người Công giáo phải sẵn sàng thi hành một cách tích cực mọi nghĩa vụ công dân…”.

Trong tập giáo lý Tôi vui sống, Ðức cha Nguyễn Kim Ðiền cũng viết: “Là người Công giáo, tôi tin vào Thiên Chúa, Ðấng tạo thành trời đất và điều khiển vận mệnh con người. Là người Công giáo Việt Nam tôi trọn vẹn là công dân Ðất nước… Tôi không sống bên lề dân tộc đang tiến lên, tôi không làm trì chậm bước tiến của Nhà nước vì thái độ tiêu cực ươn hèn”.

Xao lãng bổn phận trần thế tức là xao lãng bổn phận đối với tha nhân, và hơn nữa đối với chính Thiên Chúa

TẠI SAO NHẤN MẠNH PHẢI HỘI NHẬP XÃ HỘI MỚI?

Rõ ràng ý tưởng “hòa mình”, “hội nhập” đã được nhấn mạnh một cách hết sức đặc biệt trong những năm đầu giải phóng. Người ta không thể không thắc mắc: tại sao? Chắc chắc phải có một vấn đề khó khăn nằm đằng sau những lời kêu gọi và khẳng định có tính cách vạch đường nói trên.

Quả thực khi đọc lại một số những phát biểu, những bài viết và văn kiện trước Thư Chung 1980, người ta đoán thấy mối ưu tư của những người quan tâm tới “vận mệnh” của Giáo hội dưới chế độ mới. Mối ưu tư đó hướng về hai phía: chính quyền và cộng đồng Dân Chúa.

Ðối với chính quyền Cách mạng, người Công giáo có được chấp nhận là thành phần trọn vẹn của dân tộc hay không? Do những hoàn cảnh lịch sử và chính trị nhất định, người Công giáo đã chẳng bị coi là “xa lạ” trong cộng đồng dân tộc, thậm chí là thù nghịch với vận mệnh đất nước đó sao?

Ðối với nội bộ Giáo hội, các giám mục và một số người khác cũng lo sợ là người Công giáo có thể vì mặc cảm hoặc vì sợ hãi mà không chịu nhập cuộc. Lại biết đâu có một thiểu số nào đó muốn liên kết lại thành khối chính trị chống đối? Có lẽ ý kiến của Ðức Tổng Giám mục Bình trong “Tài liệu học tập về Bầu cử Quốc hội” đề ngày 15.3.1976 phản ánh mối lo lắng trên. Ngài viết: “Giáo hội tiếp tục sứ mạng của Chúa Giêsu, nên cũng không mong muốn, không tìm cách gây dựng cho riêng mình một lực lượng chính trị nào. Trong những dịp như cuộc bầu cử sắp tới, hoặc khi đi vùng kinh tế mới, Giáo hội chỉ hòa đồng trong nhịp sống chung của dân tộc”. Thư Chung 1976 dành riêng một số nói về người Công giáo trong cộng đồng dân tộc và khẳng định: “Không có khối Công giáo như một thế lực chính trị, vì trong phạm vi chính trị, người Công giáo là thành phần của cộng đồng dân tộc, hoàn toàn hòa mình trong cuộc sống của đồng bào” (số 6).

Ðáng lo nhất là người Công giáo có thể không chấp nhận chế độ mới vì không chấp nhận thuyết duy vật vô thần của chủ nghĩa xã hội. Thư Chung 1976 thật là can đảm và thẳng thắn khi đề cập tới vấn đề này. Rất tiếc là có một số người hồi đó phê phán các giám mục là chưa dứt khoát, chưa tích cực khi kêu gọi người Công giáo chung vai kề sức với mọi người để xây dựng đất nước và làm những gì lợi ích chung cho cộng đồng dân tộc mà không nghịch với đức tin và lương tâm Kitô giáo, nhất là quả quyết rằng giữa đức tin Kitô giáo và chủ nghĩa Mác - Lênin có xung khắc về cơ bản vì một bên là hữu thần, bên kia vô thần.

Lời phê phán đặc biệt nhằm vào mấy tiếng “xung khắc về cơ bản” mà có lẽ người ta hiểu như phạm trù “mâu thuẫn đối kháng” của triết học Mác - Lênin, theo đó thì hai mâu thuẫn đối kháng phải tiêu diệt lẫn nhau. Nhưng đọc cả đoạn văn của bức Thư Chung (số 7), ai cũng hiểu các giám mục muốn nói rằng về mặt lý thuyết (triết học, ý thức hệ…) “lý tưởng duy thần và học thuyết duy vật không hợp nhau là lẽ tất nhiên” (như Hồ Chủ tịch đã viết cho Giám mục Lê Hữu Từ ngày 2.3.1947). Dù sao liền sau đó các giám mục, dựa vào Công đồng Vatican II và Ðức Giáo Hoàng Gioan XXIII đã khẳng định rằng trên bình diện đời sống, người Công giáo và người vô thần có thể và phải hợp tác với nhau vì lợi ích chung. Thư Chung 1980, ở cuối số 7 chỉ nói lướt qua tư tưởng này. Và phần còn lại không thấy nhắc tới việc người Công giáo và người Cộng sản có thể và phải chung sống. Chắc hẳn vì khác với lá Thư của các giám mục “miền Nam”. Thư 1980 đã có một quá trình 5 năm suy tư và thực nghiệm đường lối sống chung đó, nên không thấy cần phải nhấn mạnh như hồi đầu giải phóng.

III.ÐỂ PHỤC VỤ HẠNH PHÚC CỦA ÐỒNG BÀO

Khi nói: đường hướng mục vụ là sống Phúc Âm trong lòng dân tộc, các giám mục đã mặc nhiên nói rằng Giáo hội sẽ không đứng ngoài hay đứng trên dân tộc. Và theo một nghĩa nào đó - nghĩa của Phúc Âm - Giáo hội còn đứng dưới dân tộc, tức là sẵn sàng làm người tôi tớ phục vụ.

Tư tưởng “phục vụ” là một tư tưởng then chốt của Thư Chung 1976 cũng như của Thư Chung 1980. Cả hai đều nhắc tới lời Chúa Giêsu: Tôi đến không phải để được hầu hạ nhưng là để phục vụ và thí mạng sống vì con người.

Thư Chung 1976 nói thêm: ý chí phục vụ của Giáo hội không nhằm một tham vọng trần thế nào (số 5), không có mục đích vụ lợi nào, cũng như Thiên Chúa yêu thương con người với một tình yêu vô vị lợi (số 5). Còn Thư Chung 1980 thì xác định: Giáo hội không chỉ lo lắng phục vụ cho con cái mình mà thôi, nhưng cho con người, cho mọi người vì tất cả mọi con đường của Hội Thánh đều dẫn tới con người (số 7). Ðây cũng là một ý tưởng then chốt của Công đồng Vatican II. Giáo hội ý thức hơn rằng mình có là vì con người. Giáo hội ra khỏi chính mình để phục vụ. Ðiểm gặp giữa Giáo hội và xã hội chính là con người. Sau này Ðức Gioan Phaolô II đã “láy” lại rằng “con người là con đường của Giáo hội”. Trong Sắc lệnh về Chức vụ và đời sống linh mục (số 6), Công đồng dạy: “Linh mục cũng phải dạy người Kitô hữu không chỉ sống cho mình, nhưng theo đòi hỏi của luật bác ái, mỗi người phải tùy theo ơn đã nhận được mà phục vụ lẫn nhau (xem 1Pr 4-10). Và như thế, mọi người phải chu toàn nhiệm vụ mình trong cộng đồng nhân loại theo tinh thần Kitô giáo”.

Cộng đồng nhân loại mà Thư Chung nói tới, tiên vàn là cộng đồng dân tộc.

Vậy Giáo hội Việt Nam phải phục vụ hạnh phúc của đồng bào. Nhưng hạnh phúc đó là gì? Có lần một cán bộ tôn giáo đã nhận xét: “Ðường hướng phục vụ hạnh phúc của đồng bào là tốt. Nhưng không thiếu linh mục coi hạnh phúc đó là thuần túy thiêng liêng, còn những chuyện cụ thể như cơm ăn, áo mặc, nhà ở, thuốc uống, trường học, việc làm… thì cho là chuyện của đời, không dính tới đạo”. Tôi nghĩ rằng chắc chắn vị này cũng nghĩ “một chiều”, nhưng ngược lại lối nghĩ “thuần túy tôn giáo” trên đây thôi. Tôi chắc cả hai cách giải thích đều không phải là ý của các giám mục.

Một ý kiến của Hồng y Francois Marty lúc còn là Tổng Giám mục địa phận Reims (1966) có thể soi sáng chúng ta.

“Mục đích của Giáo hội xét về mặt cơ chế, không phải là chính Giáo hội, song là một thế giới được biến đổi bởi ân sủng của Ðức Kitô cho Thiên Chúa được tôn vinh. Ðiều đó thay đổi tất cả.

Vấn đề không phải là gia tăng số người gia nhập Giáo hội, hoặc gia tăng số người trung thành với phụng tự của Giáo hội hoặc với các tổ chức của Giáo hội. Cộng đoàn Kitô hữu được sai đi phục vụ con người để cuộc đời họ được thành tựu trọn vẹn theo ý định của Thiên Chúa.

Giáo hội phục vụ tất cả những gì làm nên cuộc sống con người, trong lao động, trong gia đình, trong xã hội, để tất cả được hoàn thành trọn vẹn cho lợi ích của con người.

Ðó không phải là một chiến thuật để lôi kéo họ về với Giáo hội. Nhưng đó là một dịch vụ Kitô giáo (service chrétien) để cho con người được sống và được hạnh phúc tràn đầy. Với danh hiệu đó, người Kitô hữu, giáo dân và linh mục, phải có mặt và hoạt động trọn vẹn và chân thành trong chính cuộc sống của thế giới”.

Vậy dựa theo Hồng y Marty, chúng ta cũng sẽ nói rằng Giáo hội Việt Nam không chỉ phục vụ những điều thuần túy thiêng liêng hay thuần túy tôn giáo. Giáo hội phục vụ tất cả những gì làm nên cuộc sống của người Việt Nam, của đồng bào, trong đó trước hết có những chuyện trần gian và vật chất, tuy nhiên điều Giáo hội phải nhắm tới (và đó là sứ mạng riêng của Giáo hội) là giúp cho tất cả những chuyện đó được hoàn thành theo ý định của Chúa, và như thế mới thực sự là phục vụ lợi ích và hạnh phục của đồng bào. Hạnh phúc của đồng bào không phải chỉ có phần rỗi linh hồn, cũng không chỉ dừng lại ở cuộc sống trần gian. Ðó cũng chính là hạnh phúc trần gian được xây dựng đúng với ý định của Thiên Chúa về con người và về thế giới. Do đó khi phục vụ hạnh phúc của đồng bào, Giáo hội vẫn có phần đóng góp riêng, có cách thức riêng không thể thay thế. Ở đây là chỗ để nhớ tới sứ mạng tiên tri của Giáo hội.

Giáo hội không thể đứng ngoài, đứng bên lề đời sống của dân tộc Việt Nam

 

KẾT LUẬN

Xin nêu lên ba điểm để kết luận.

1- Ðường hướng mục vụ của Thư Chung phát xuất từ một ý thức về chính bản chất và sứ mạng của Giáo hội. Vậy không được tách ra khỏi phần I của Thư Chung.

2- Các giám mục đã nhìn biến cố 1975 và hoàn cảnh mới trong đức tin, như một lời mời gọi của Chúa để sống và loan báo Tin Mừng, do đó Thư Chung toát ra một vẻ vững tâm, tin tưởng, lạc quan, tích cực: “Chúng ta hãy mạnh dạn nhìn vào hiện tại và tin tưởng ở tương lai”. “Chúng ta hãy hân hoan chu toàn sứ mạng vinh quang của mình” (số 15).

3- Giáo hội luôn bước đi giữa lòng thế giới không ngừng biến chuyển. Giáo hội cố gắng nhận ra các dấu hiệu thời đại, lắng nghe tiếng Chúa nói qua các biến cố và hoàn cảnh để từng lúc đáp lại và giúp cộng đồng nhân loại thể hiện tốt hơn mục đích của nó.

Có thể là Giáo hội năm 1990 này đang đứng trước một số những vấn đề mới, những thách thức mới cho sứ mạng loan báo Tin Mừng và do đó có thể sẽ phải lên tiếng soi sáng cho cộng đoàn tín hữu của mình. Nhưng hoàn cảnh có thế nào đi nữa thì Giáo hội vẫn chỉ có thể là một Giáo hội nghèo khó, không quyền lực, khiêm nhường và phục vụ, như Thư Chung đã vạch đường.

 

Lm. NGUYỄN HỒNG GIÁO (+)

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm