Chủ Nhật, 22 Tháng Mười Một, 2015 13:01

Tinh thần Martinô nơi một vị mục tử

Với cha Hiêrônimô Vũ Văn Tác, chánh xứ Mỹ Thạnh (giáo phận Long Xuyên), kim chỉ nam trong cuộc đời mục tử là đi với người nghèo. Do vậy, qua các hành động, biểu hiện khác nhau, cha đều muốn bày tỏ lòng yêu thương, thái độ trân trọng những phận người nhỏ bé, mong manh giữa biển đời rộng lớn.

Linh mục Hiêrônimô Vũ Văn Tác

TINH THẦN MARTINÔ DE PORRES

Khoảng 30 năm về trước, khi coi sóc giáo họ Kinh Bắc nằm trên hai bờ kinh E1, xã Thạnh An, huyện Vĩnh Thạnh – Cần Thơ (họ lẻ giáo xứ Bắc Xuyên), cha đã xây cất ngôi thánh đường mới. Trong quá trình thi công, nhiều lần cha cầu cùng Thánh Martinô cho công trình diễn ra suôn sẻ, tốt đẹp. Năm 1987, ngôi nhà thờ khánh thành. Để tưởng nhớ ơn ban của vị thánh da đen, cha đổi tên thành giáo xứ Martinô.

Hình ảnh người tu sĩ Martinô dòng Đa Minh khắc khổ, sống hèn mọn, luôn nghĩ tới tha nhân nghèo khó ngày càng tạc ghi vào tâm trí cha dấu ấn mạnh mẽ. Gương sáng cuộc đời ấy như mời gọi vị mục tử nối tiếp tinh thần bác ái, yêu thương. Vậy nên, sau thời gian ngắn về làm quản xứ Kitô Vua (kinh C1 xã Thạnh Thắng, huyện Vĩnh Thạnh – Cần Thơ), cha bắt tay thực hiện điều ấp ủ bấy lâu. Ngày 3.11.2000, lễ kính thánh Martinô, bữa cơm ân tình dành cho những ai bán vé số, tàn tật, ăn xin, già cả neo đơn lần đầu được tổ chức. Từ đó, ngày này trở thành thông lệ tiếp đón các mảnh đời cơ khổ ở những nơi cha phục vụ như Thạnh An, Thanh Long và nay là Mỹ Thạnh. Bữa cơm đơn sơ, nồng ấm tình người nói lên ước mong giúp người nghèo cảm nhận được giá trị sống và nhận ra cuộc đời vẫn còn những vòng tay, trái tim đón tiếp những con người tưởng chừng bị lãng quên, bị gạt bỏ chơ vơ bên lề xã hội.

Ngoài mời ăn, cha còn chuẩn bị thợ cắt tóc cho người nghèo

Năm nào cũng vậy, từ sáng sớm đã thấp thoáng bóng dáng cụ già đội nón lá lụp xụp, tay cầm vé số hoặc những người tật nguyền ngồi chờ ở băng ghế đá. Họ đến từ muôn nơi, đều mang trong mình nỗi buồn riêng lặng lẽ về gia cảnh, bệnh tật, tâm hồn. Họ tới đây hầu tìm thấy chút hơi ấm tình người, tình đời. Bởi thế, cung cách tiếp rước, phục vụ ân cần nơi ban tổ chức cũng đã âm thầm thổi lên niềm tin yêu, sưởi ấm bao cõi lòng đau khổ. Đã làm thì làm cho tròn, thương sao cho trọn nên cha và giáo xứ chu đáo bày bàn ghế, dựng rạp, cơm nước tươm tất như bữa tiệc. Nhiều cụ miệng móm mém ngồi dùng trông ngon lành, cụ khác ăn phân nửa còn để dành mang về. Làn da nhăn nheo, đôi mắt mờ đục vì tuổi tác, giọng một cụ bán vé số run run: “Thường buổi trưa tui ăn 5.000 xôi hay ổ bánh mì không rồi đi bán tiếp. Nghèo quá, cứ phải tằn tiện quanh năm suốt tháng”. Chính vì vậy, được tới dùng bữa cơm tử tế và nhận sự tiếp đãi tận tình khiến họ sướng vui, thấy mình giống như “thượng khách”, dù chỉ một ngày.

Hạnh phúc vì được làm "thượng khách" một ngày

Ngoài bữa ăn, khi ra về bà con nhận thêm chút quà gồm gạo, mì gói, đường, dầu ăn, bột ngọt và tiền xe tương ứng với lộ trình xa hay gần. Tàn “tiệc”, mọi người ra về rạng rỡ hân hoan. Trong ngày hội ngộ, cha còn mời một số thợ đến cắt tóc miễn phí cho bà con. Ai có nhu cầu thì ghé sớm hơn để được phục vụ. Từ bé con tóc loe hoe tới người già tóc bạc trắng, đều cảm thấy nhẹ nhõm vì đã được cắt tỉa gọn gàng.

Niềm vui bình dị của ngày 3.11 không chỉ nhen nhóm nơi người nghèo khó mà còn đọng lại nơi “hậu trường” tổ chức. Để công việc trôi chảy, nhịp nhàng, nhóm đàn ông sắp xếp quà vào từng túi, chuyển gạo ra chỗ phân phát; cánh phụ nữ lui cui nấu nướng, chia phần ăn vào từng hộp; nhóm khác trải bàn, bưng bê trà, ly, xếp đặt ngay ngắn. Không khí rộn ràng, tất bật bao trùm xứ đạo miền Tây. Vất vả tí nhưng mọi người đều thấy ấm lòng, tươi vui. Chính khi phục vụ như vậy, cha thầm mong giáo dân sẽ tích lũy thêm tinh thần liên đới, sẻ chia với anh em chung quanh và cảm nhận đời thường. “Cho” đi cũng là lúc được “nhận”. Tinh thần của thánh Martinô tỏa lan từ những điều nhỏ nhặt như thế.

CÁI CHỮ CÁI TÌNH

Nhà thờ Mỹ Thạnh nằm cạnh bắc Vàm Cống. Những chuyến phà êm ả đưa người và xe qua lại suốt ngày đêm. Trên mỗi con phà ngược xuôi, rẽ sóng nước không ngừng nghỉ ấy, có không ít kiếp người buôn gánh bán bưng vì kế sinh nhai. Họ bán vé số, nước uống, thức ăn vặt, trái cây để đổi lấy chút đồng lời ít ỏi.

Ra về với niềm vui từ các phần quà được trao tặng

Một lần tình cờ, cha biết đến hoàn cảnh của bà cụ bán vé số nay trên phà, mai rong ruổi khắp nẻo đường gió bụi. Ba đứa cháu ngoại của bà hoàn toàn không biết con chữ nó ra sao, tròn dẹt thế nào vì không có giấy khai sinh để đi học. Ba chúng là người Campuchia, đã mất từ lâu. Mẹ bị bệnh, không đủ sức lao động. Cuộc sống lang bạt đó đây gây trở ngại trong các thủ tục giấy tờ nên gia đình đành phớt lờ. Kết quả, ba trẻ phải chịu cảnh mù chữ. Lòng nhân ái của người chủ chăn thôi thúc cha giúp đỡ các em càng sớm càng tốt. Biết trong vùng còn có vài em cũng không biết chữ do cái nghèo, cha quy tụ đám trẻ, nhờ hai giáo viên hưu trong xứ bỏ công dạy chữ. Lớp mới mở được hai tháng, ca sáng có 5 học sinh, tối đông hơn với 17 em.

Từ ngày được đi học, ba chị em Duyên (12 tuổi), Linh (11 tuổi) và Phương (7 tuổi) đều đặn tới lớp với niềm say mê, tò mò, thích thú. Trên quyển tập, các em nắn nót từng nét bằng viết chì rồi bút bi. Biết chữ muộn màng nên ban đầu bàn tay Duyên, Linh cứ cứng đờ ra; sau vài tuần, nét chữ của em đã uyển chuyển, mềm mại hơn trước rất nhiều. Với những trẻ lao động khác, non nớt và còi cọc đáng thương, chúng không ngần ngại chia sẻ niềm vui lần đầu được học chữ, đánh vần. Rà ngón tay theo dòng chữ trên tập, một em lẩm nhẩm khoe: “A, lờ a la sắc lá. O, thờ o tho hỏi thỏ”. Chỉ mới mấy hôm trước, tuổi thơ của lũ trẻ không có chỗ cho cây bút, cuốn vở, chúng phải giấu ánh mắt thèm thuồng được cắp sách như bạn bè vào sâu trong lòng. Thế mà nay, các em đã có thể nghĩ và mơ ước tới những điều mới mẻ hơn ngoài mấy khay bánh, chai nước hay tờ vé số.

Được học chữ nay không còn là điều tầm với của các em

Khi mở lớp xóa mù chữ, cha Tác và giáo viên không nghĩ sẽ có cả những học trò “người lớn”. 4 học sinh “đặc biệt” này làm lớp thêm sống động với nhiều câu chuyện thú vị. Chị Thu, thợ sửa quần áo, vì không biết chữ nên hay giao nhầm đồ cho khách. Lúc khác thì không nhớ nổi họ yêu cầu sửa gì, thâu lưng hay ống quần, đơm nút nào... Nếu có cái chữ “lận lưng” chị đã có thể dễ dàng ghi lại nhu cầu của từng người. Còn cô gái trẻ tên Tâm bẽn lẽn thú thật: “Em mong mình sẽ đọc và viết thạo để nhắn tin được với... người yêu. Rồi sau này về nhà chồng, em sẽ không bị coi thường, khi dễ vì dốt nát”. Cũng thực tế và đơn giản không kém, chị Nhàn, người trông cá thuê muốn biết chữ để đọc sách Sấm giảng trong đạo Hòa Hảo của chị vào mỗi tối. Rồi lúc đi đường, sẽ không còn khó chịu bởi hiểu được các bảng quảng cáo, bảng hiệu đề gì, quán kia bán món chi đặng vào không bị... hố. Gần 50 tuổi, nhà nghèo, tối đến chị viết bài trên cái đáy thùng sơn úp ngược. Những khó khăn ấy không làm sờn phai ý chí, quyết tâm học tập nơi chị. Như lời cô giáo Thúy nhận xét, chị là người quê mùa, lam lũ nhất nhưng đồng thời là học sinh giỏi nhất lớp.

Ấm áp những bữa cơm ân tình 

Lớp tình thương mà cha Tác kịp thời mở ra đã cứu lấy những “búp măng” khỏi bóng tối mù chữ, đã vô tình giúp “học trò lớn” thỏa những niềm khát khao rất đỗi chân thành, bớt mắc cỡ, ngượng ngùng.

Đứng bên này phà Vàm Cống, ngôi thánh đường giáo xứ Mỹ Thạnh bên kia sông Hậu hiện lên trong tầm mắt lữ khách với ngọn tháp đôi vút cao. Nơi đó, có một vị mục tử ngoài 60 tuổi vẫn đang âm thầm chăm chút, nhen nhóm ngọn lửa yêu thương. 

Phú Khang

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm