Thứ Tư, 01 Tháng Mười Một, 2017 15:42

TRỞ LẠI VẤN ĐỀ XIN LỄ VÀ BỔNG LỄ

Hiện nay, đang tồn tại nhiều cách thức rao ý lễ: I) Liệt kê danh sách ý lễ trong tờ thông tin của giáo xứ; II) Vị chủ tế hay một thành viên trong hội đồng mục vụ rao ý lễ trước khi thánh lễ bắt đầu; III) Ý lễ được đề cập trong phần đầu lễ hay phần Lời nguyện Tín hữu; IV) Ý lễ được đọc trước hay ngay trong chính Kinh nguyện Thánh Thể.

 

Về cách nói cũng vậy, chúng ta cũng nghe thấy nhiều ngôn từ khác nhau, đại loại là: “Thánh lễ được dâng để cầu nguyện cho linh hồn Giuse…” ; “Thánh lễ này được cử hành đặc biệt đề cầu nguyện cho….”; “Ý lễ của thánh lễ hôm nay là…”; “Cầu cho 10 linh hồn A, 8 linh hồn B…”. Thêm nữa, tại một số giáo xứ, người xin lễ được trao cho vai trò đặc biệt trong thánh lễ. Tất cả những thực hành trên có cái đúng cần tiếp tục nhưng cũng có cái chúng ta phải loại bỏ vì không phù hợp trong phụng vụ và làm phương hại đến bản chất và mục tiêu của nghi thức thánh lễ.

Xin lễ và bổng lễ theo Giáo luật 1983

Một trong số những thay đổi quan trọng nhất của Bộ Giáo luật 1983 (GL) liên quan đến ý lễ - bổng lễ chính là về tên gọi. Thay vì gọi là “bổng lễ” (stipendium) thì nay gọi là “của dâng tiến / của dâng tặng/ của dâng cúng/ hiến nghi” (stips). Chúng ta biết rằng, hạn từ “bổng lễ” (stipendium) được sử dụng để chỉ đồng lương trả cho người lính, nó gợi lên ý nghĩa tiền thù lao hay trả công. Thánh Tôma Aquinô ưa thích hạn từ này nhưng với ý nghĩa là của biếu/ của tặng/ của dâng cúng cho việc cử hành thánh lễ theo một ý lễ nhất định, bởi vì “bổng lễ” (stipendium) chỉ ra rằng của biếu/ của tặng/ của dâng cúng được xét như là đối tượng bù đắp cho thời gian và công sức của vị tư tế hơn là chuyện bán ân sủng. Nói cách khác, “bổng lễ” (stipendium) chuyển tải ý nghĩa là trả lại cho dịch vụ được cung cấp.1

Giáo luật 1983 đã loại bỏ hạn từ bổng lễ (stipendium), mà thay vào đó là hạn từ “của dâng tiến/ của dâng tặng/ của dâng cúng/ hiến nghi” (stips). Ðây là hạn từ chuyển tải tốt hơn bản chất tự do, tự nguyện, cho không, miễn phí của quà tặng phát xuất từ lòng hảo tâm của người xin lễ và vì lý do tôn giáo. Nó tương tự như tặng phẩm (sản phẩm ruộng đất, hoa quả, thực phẩm, quần áo…) mà các tín hữu thời xa xưa thường mang đến nhà thờ hầu đáp ứng nhu cầu thiết yếu của cử hành Thánh Thể và của Giáo hội. Ðây là một thứ hy sinh được trích ra từ tài sản của người xin lễ do công sức của họ làm ra, nhằm bày tỏ ước muốn tham dự tích cực vào thánh lễ. Ðây cũng là dấu chỉ sự hợp nhất của tín hữu với những nhu cầu của Giáo hội.2 Bởi thế, Giáo luật số 946 nói: “Khi dâng ‘bổng lễ’ để thánh lễ được áp dụng theo ý chỉ của mình, các tín hữu đóng góp vào thiện ích của Giáo hội; bằng việc dâng cúng ấy, họ góp phần nâng đỡ các thừa tác viên và các hoạt động của Giáo hội”.3 Tại Việt Nam, chúng ta vẫn dùng hạn từ “bổng lễ” nhưng phải được hiểu theo ý nghĩa mới này (stips).

Như vậy, không bao giờ được hiểu “tiền xin lễ” là sự trả tiền nhằm thỏa đáng một hợp đồng liên quan đến dịch vụ được cung cấp là thánh lễ như kiểu “mua bán” thánh lễ. Khi nhận tiền xin lễ như “của dâng tiến/ của dâng tặng/ của dâng cúng/ hiến nghi” (stips) giống như của lễ hay tiền dâng được dâng trong phần tiến lễ, nghĩa vụ duy nhất vị tư tế phải gánh vác thi hành là cử hành thánh lễ. Ðây là nghĩa vụ theo Giáo luật. Bởi thế, chỉ cần vị tư tế ít là có ý lễ từ trước (thường xuyên)  hay mặc nhiên [khi làm chủ tế hay đồng tế trong thánh lễ] là đủ, tức nghĩa vụ này khi ấy được chu toàn và ngài không còn bất cứ một nghĩa vụ nào khác, chẳng hạn như rao ý lễ.

Nền tảng lịch sử và thần học4

Thực hành chấp nhận một “của dâng tặng” cho mỗi thánh lễ phát sinh từ thời Trung cổ nhằm đáp ứng nhu cầu mục vụ bấy giờ. Trong thời kỳ này, các tín hữu ngày càng tách rời khỏi hành vi phụng vụ trong thánh lễ và trở thành những quan sát viên thụ động với những gì đang diễn ra trên cung thánh: I) Rất ít khi họ lên rước lễ, giáo dân bị ngăn cản không cho rước máu thánh; II) Các giáo sĩ [dưới chức linh mục] và lễ sinh thay thế vai trò của cộng đoàn tín hữu để đáp lại các câu xướng của chủ tế; III) Không thể hiểu được ngôn ngữ của thánh lễ. Một trong số ít cách thức để dân chúng có thể tham gia tích cực hơn vào thánh lễ chính là qua hệ thống bổng lễ.

Tuy nhiên, với công cuộc cải tổ phụng vụ của Vatican II, không còn nhu cầu thực sự về loại hình tham gia giới hạn này. Bây giờ, cộng đoàn có thật nhiều cơ hội để có thể tham gia một cách tích cực hơn vào thánh lễ qua cầu nguyện, bài hát, cử chỉ và tung hô. Cách riêng, Lời nguyện Tín hữu vào lúc kết thúc phụng vụ Lời Chúa hoàn tất một cách hiệu quả hơn mục đích nguyện thủy của hệ thống bổng lễ, bởi vì lời nguyện này trở thành những ý lễ khớp nối toàn bộ cộng đoàn phụng vụ chứ không còn là ý lễ của riêng tư tế và người xin lễ nữa.

Ðiều này không có nghĩa là “tiền xin lễ” không còn một giá trị hay vai trò nào. Trong thực tế, tại nhiều quốc gia, nhất là tại Việt Nam chúng ta, giáo dân vẫn còn xin lễ rất nhiều đến độ, tại không ít giáo xứ, số ý lễ nhận được thỉnh thoảng phải chuyển đi nơi khác. Tuy hệ thống “hiến nghi/ bổng lễ” chắc chắn vẫn luôn tồn tại, nhưng ý nghĩa đã thay đổi rất nhiều do bởi nền phụng vụ canh tân và thần học đương đại.

Xin nêu ra ở đây một vài lý do về sự cần thiết của ý lễ và bổng lễ mà cho đến nay vẫn được coi là một thực hành đáng ca ngợi: I) Là sự đóng góp của các tín hữu vào thiện ích của Giáo hội; II) Là một phương thức cụ thể hóa lời nguyện của người xin lễ cũng như sự dâng hiến chính bản thân lên Thiên Chúa và tin rằng Ngài sẽ chấp nhận lời nguyện như một Người Cha đầy tình yêu thương và nhân ái; III) Là một thực hành đầy ý nghĩa của nhiều người Công giáo nhằm diễn tả tình thương mến, sự hiếu kính và lòng bác ái thiêng liêng, cũng như nhắm lợi ích đối với người người thân yêu đã qua đời; IV) Tạo cơ hội để tưởng nhớ đến người quá cố cách công khai.

Tất cả những động cơ trên đều hợp pháp và chính đáng. Tuy nhiên, lý luận thần học xưa cũ về bổng lễ đã bị phê phán bởi các nhà thần học và phụng vụ đương đại như Karl Rahner, M. Francis Mannion và Timothy Fitzgerald.5 Ðó là lý thuyết về 3 hiệu quả của thánh lễ [vốn được gán cho Duns Scottus và các nhà thần học Trung cổ khác là tác giả]6 mà một hiệu quả đặc biệt trong đó có thể được áp dụng bởi vị tư tế cho ý chỉ của ngài [trong tư cách là thừa tác viên của hy tế Thánh Thể] vốn là ý chỉ của người xin lễ khi ngài nhận tiền xin lễ của họ.7 Hai hiệu quả hay ân sủng khác được áp dụng cho mọi tín hữu và bản thân tư tế. Mặc dù lý thuyết này được công nhận một cách phổ biến qua nhiều thế kỷ trong Giáo hội, nhưng không phải là điều phải tin. Quả thực, thần học này chưa bao giờ được đề cập một cách minh nhiên trong những loan báo gần đây của huấn quyền Giáo hội.8 Trong khi không phản bác hoàn toàn, nhưng cả Tông thư của Ðức Phaolô VI “Firma in traditione” (13-06-1974) lẫn Bộ Giáo luật mới 1983 thời Ðức Gioan Phaolô II đều không đề nghị hay khuyến khích lý thuyết 3 hiệu quả thánh lễ trên đây. Trái lại, những văn bản này nhấn mạnh rằng: I) Lợi ích hàng đầu của việc xin lễ là cho chính Giáo hội xét về phương diện thiêng liêng cũng như tài chánh, vì ân sủng vô hạn tuôn tràn từ hy tế của Chúa Giêsu trên thập giá sẽ đến với toàn thể Giáo hội gồm những người còn sống cũng như những anh chị em đã ly trần; II) Lợi ích thứ yếu là cho người dâng tặng hay người xin lễ với những hoa trái thiêng liêng của hy lễ tạ ơn được thánh lễ áp dụng cho xét như là kết quả của sự chuẩn bị thiêng liêng và tham gia tích cực của họ vào thánh lễ, cũng như sự thông dự của họ vào công việc và sứ vụ của Giáo hội.9         

(còn nữa)

Lm. Giuse Phạm Ðình Ái, SSS

_____________________________________________________________

1 Xc. Phan Tấn Thành, Nhiệm vụ Thánh hóa của Giáo Hội - Giải thích Giáo Luật, quyển 4 (knhxb, knxb), 83-84.

2 Ibid.

3 Xc. Paulus VI, Tông thư motu proprio, “Firma in traditione”, 13-06-1974, AAS 66 (1974) 308-311.

4 Xc. John M. Huels, “Mass Intentions” trong Disputed Questions in the Liturgy Today (Chicago: LTP, 1988), 47-55.

5 Rahner, “Multiplication of Masses.” Orate Fratres 24 (1950), 553-562; Manion, “Stipends and Eucharist Praxis” trong Living Bread, Saving Cup, ed. R. Kevin Seasoltz (Minnesota: Liturgical Press, 1987), 324-346; Fizgerald, “The Story of Stipend,” Part I: Liturgy 80, 16 (Octorber 1985), 2-5; Part II: Ibid. (Nov-Dec 1985), 7-9; Part III: Liturgy 80, 17 (Jan. 1986), 2-4.

6 Xc. Gilbert Ostdiek, “The Three Fruites of the Mass: Notes and Reflections on Scotus’ Quodlibetal Questions, q. 20,” trong Essays Honoring Allan B. Wolter, ed. William A. Frank and Girard. Etzkorn (St. Bonaventura, NY: Franciscan Institute Publications, 1985), 201-219; Edward Kilmartin, “The One Fruite or the many Fruites og the mass,” trong Proceedings of the Catholic Theological Society of American 21 (1966), 37-68.

7 Xc. Edward McNamara, “Mass Intentions” trong A Zenit Daily Dispatch (22 Feb. 2005 và 5 Apr 2016).

8 Paulus VI, “Firma in traditione”, 13.6.1974, AAS 66 (1974) 308-311.

9 Xc. John Huels, “Stipend in the New Code of Canon Law,” trong Living Bread, Saving Cup, 347-356; One Table, Many Law: Essays on Catholic Eucharistic Practice (Minnesota: Liturgy Press, 1986), 88-89; 90-91.

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm