Thứ Tư, 13 Tháng Năm, 2015 14:10

Từ tên gọi đến trái tim

Cho dù ở cương vị là Tân Hồng Y hay những ngày mới thụ phong linh mục phục vụ ở Giáo phận Đà Lạt, Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn luôn để lại trong lòng những người đã tiếp xúc với ngài hình ảnh vị mục tử chịu thương, chịu khó với chiếc quần tây dính đầy bụi đường đất đỏ, khuôn mặt đen sạm đi vì cái nắng của những ngày rong ruổi khắp tỉnh Lâm Đồng để mang yêu thương đến cho đồng bào dân tộc. Có lẽ, ngài đã sống trọn chữ “nhân” (nhơn) được phụ mẫu gửi gắm khi vừa lọt lòng…

Đến Đà Lạt vào những ngày đầu năm, “hưởng thụ” được cái lạnh cắt da cắt thịt thì cũng cảm nhận nốt cái nắng chói chang khó chịu của vùng cao. Đi từ Bảo Lộc, lên Di Linh, ngang qua Đinh Trang Hòa, tiến tới Lạc Viên và “hạ cánh” ở xứ sở của các loài hoa, dễ làm cho người thành phố có cảm giác sốc nhiệt. Nhiều ngày gần đây, người Công giáo tỉnh này ai cũng hân hoan với sự kiện Đức tân Hồng y đang còn nóng hôi hổi từ báo chí đến truyền hình trải dài trên khắp đất nước hình chữ S quanh co. Mà cũng không phải tự dưng người ta hoan hỷ đến… lạ thường như vậy. Đối với họ, ngài như một phần của cao nguyên này. 70 năm hơn sinh ra, gắn bó và sống trong lòng những người dân tộc, ăn với họ, ra đồng với họ, giã gạo với họ, dường như dòng máu của người Thượng cũng đã chảy trong ngài bao chục năm qua.

Đức Hồng y với giáo dân dân tộc tại Gx Đinh Trang Hoa

Cao, lắt lẻo, quanh co, ngoằn nghèo… là một vài trong số những tính từ tượng hình để mô tả về những con đường ở đây, và nếu chỉ đi một mạch thẳng tuột lên vùng đất hoa, có lẽ là một thiếu sót cho ai có dịp đến thăm bởi không thấy hết được cuộc sống dân dã, có phần nghèo nàn, hoang sơ của bản làng xa xôi nằm heo hút trong những con đường đất đỏ gồ ghề, nhỏ hẹp mà xe bốn bánh xin chào thua, còn hai bánh thì phải… “xăm mình” mới đi được. Vậy nhưng từ khi còn gắn bó với nơi chôn nhau cắt rốn, Đức cha Phêrô năm nào cũng dành thời gian từ ngày mồng 1 đến 9 Tết đi đến tận những nơi đó thăm dân. Giáo phận Đà Lạt có hơn 300.000 giáo dân thì đã gần 150.000 người không phải dân tộc Kinh, ông cụ già ngày ấy tóc không rõ là trắng nhiều do bạc hay phủ sương “cưỡi ngựa hai bánh” leo dốc này, tụt dốc khác để vào bản nói tiếng Thượng, quây quần trong ngôi nhà sàn của trưởng làng cùng bà con dân tộc. Cho yêu thương, nhận lại thương yêu – người dân tộc họ rất quý Đức cha, dịp nào ngài ghé lại họ cũng tập trung rất đông, cởi chuỗi hạt cườm đeo trên cổ mình mang vào cho đấng chủ chăn khả kính của mình. Phải đến cả trăm dân, nhiều đến mức nặng cổ và nói vui là có thể đi chúi xuống đất. Mộc mạc, chân chất là nét đẹp của người thiểu số, có lẽ vị mục tử già không chỉ sống trong mà còn hiểu và yêu những anh em đóng khố này, yêu cả sự chân thành đến ngây ngô của họ. Linh mục Barthôlômêô Nguyễn Văn Gioan, Chánh xứ Đinh Trang Hòa, người ngày trước từng có nhiều chuyến tháp tùng Đức cha Nhơn đi vi hành nhớ lại ngày tháng rong ruổi của hai cha con : “Lúc vào trong Phú Sơn, chỗ cha Giuse Nguyễn Hưng Lợi, họ bu lấy Đức cha chụp hình. Có người xin: Con muốn chụp hình đứa con với hai đứa cha”.

Ngài luôn ở giữa và đồng hàng với người dân tộc

Còn khỏe là còn leo được”, đó là khẳng định chắc nịch của Đức cha Phêrô lúc đó, khi nhiều người thân cận cảm thấy ái ngại cho sức khỏe của ngài ở độ tuổi toan khó nhọc vì xương khớp rệu rạo. Ngài cũng có một cách kiểm tra sức khỏe và khám tổng quát định kỳ rất… “dân tộc” – leo núi. Đỉnh Liang Biang cao vậy nhưng chắc cũng “ngả nón” ái mộ sự bền bỉ, dẻo dai và kiên trì của ông cụ. Có muôn ngàn cách để hiểu về khả năng của ngài, nhưng có thể nói, tình yêu là cái lớn nhất để giúp sứ giả tình yêu của Chúa không ngại bất cứ một điều gì chỉ để tận tụy với lý tưởng làm việc tông đồ mà mình đã hướng đến từ những ngày đầu sống giữa đồng bào anh em.

Người dân tộc vốn rất dễ thương bởi cái đơn sơ của họ, và cũng chính bản tính này khiến người dân tộc nghèo rất đáng thương, khi họ quay quắt mãi cũng chả biết phải làm như thế nào để thoát khỏi cảnh cùng cực. Người dân tộc mà bị cùi thì còn bi đát và chạnh lòng đến nghẹn ngào. Chưa bao giờ vơi nỗi nhớ, chưa bao giờ quên thao thức và chưa bao giờ không ghé lại trại cùi khi đi ngang Di Linh, để nắm những bàn tay, trao đi những cái ôm cũng như gửi gắm từng lời hỏi han dành cho các bệnh nhân chốn này, đó không chỉ là chia sẻ của nữ tu Têrêsa Nguyễn Thị Tú (Hội dòng Nữ tử Bác ái Vinh Sơn) đang phục vụ ở trại phong mà còn là tâm tình quý mến của nhiều bệnh nhân lưu trú tại đây dành cho Đức tân Hồng y Phêrô. Bận rộn công việc ở nhiều địa phương khi còn làm Giám mục Đà Lạt, nhưng Đức cha Phêrô khi nào cũng dừng chân tại khu điều trị như người con đi làm phương xa, cuối ngày cuối tháng ghé về thăm gia đình. Có khi ngài còn ở lại ngả lưng qua đêm tại gian nhà của Đức cha Cassaigne ở xưa, để cảm nhận được tình thương mà bậc tiền nhân đã dành cho những người cùi đáng thương, để nghe trái tim mình luôn thổn thức cùng nỗi đau, nỗi lo âu của những người có hoàn cảnh bất hạnh. Trời chiều Di Linh nhiệt độ xuống thấp, gió chẳng vi vu mà cũng không thoang thoảng như ở một số nơi, trên ngọn đồi của trại lại còn cao chót vót với gió thốc kèm theo cái lạnh vào thấu tận xương, người ta thấy ngài đứng đó, bên mộ của Đức cha Cassaigne, tĩnh lặng nguyện cầu. Mấy nữ tu ở trại kể, ngài thường bảo hay ra mộ để xin Đức cha cầu bầu cùng Chúa chở che và giúp cho ngài sức khỏe phục vụ đồng bào dân tộc, nâng đỡ bệnh nhân phong. Ngài đứng cũng để cảm nhận được cái lạnh làm tê tái đau buốt mà người cùi phải chịu đựng dưới thời tiết khá khắc nghiệt của vùng cao.

Anh em dân tộc và những người bất hạnh luôn ở trong trái tim ĐHY Phêrô Nguyễn Văn Nhơn

Sống gần, rồi yêu, và mong muốn lưu giữ lại văn hóa của người Thượng là tâm nguyện của Đức cha Phêrô, như một cách để đáp lại những quý mến của người dân tộc dành cho mình. Chắc chắn, phải có tình cảm sâu nặng đến dường nào người ta mới yêu con người cũng như phong tục của một dân tộc mạnh mẽ như vậy. Từ sách lễ Rôma tiếng K’Ho đến Từ Điển K’ho – Kinh; từ sinh hoạt, phong tục tập quán đến cả những bài văn vần họ ngêu ngao hát trong những ngày thu hoạch cà phê. Tất cả đều được ngài cùng với các linh mục trong giáo phận chắt nhặt, ghi nhận rồi nâng niu, lưu giữ để người người biết đến sự tồn tại của những con người chân chất, đáng mến, hiền hòa ở vùng cao nguyên này. Ghé thăm linh mục Đaminh Nguyễn Huy Trọng (cựu chánh xứ Kala) vừa về hưu năm 2013, chúng tôi được biết trong góc phòng của cha, chiếc máy tính bàn trông đã hơi cũ nhưng vẫn chạy bon bon là tiền chắt chiu tiết kiệm mà vị mục tử “Nhơn” lành đã gửi gắm để nhờ cha Trọng ghi lại những nét văn hóa của người dân tộc bản địa. Tiền trả cho người đánh máy và cho đi học, Đức cha cũng hỗ trợ, với mục đích chung tay giữ cho đồng bào thiểu số tài sản quý giá là nền văn minh mà họ đã có từ nhiều đời nay đang bị dần mai một. Tình yêu đối với anh em đồng bào dân tộc nơi linh mục Đaminh đã có hầu như cả đời ăn ngủ với người K’Ho như được tiếp thêm lửa để ở tuổi xế nhưng không chiều, vẫn miệt mài ghi chép lại mọi thứ mà mình đã nghe, đã thấy và đã cảm được cuộc đời ở giáo xứ Kala.

Nơi cao nguyên nhiệt độ thông thường vào tầm 17-18 khiến cho ai nấy chỉ muốn đắp chăn, trùm mền… ủ Đông. Thế nhưng, dù là giữa trưa 12 giờ, nắng lên cao rát cả da mặt, Đức cha Phêrô vẫn không ngại ngùng vượt đèo chỉ vội khoác cái áo cho ấm, cái mũ bảo hiểm cũng không che được ánh mặt trời để lại tiếp tục leo lên con dốc nào đó, vào sâu trong bản làng nào đó ở những nơi đang cần ngài. Da có sạm đen đi, quần có đầy đất đỏ nhưng bước chân của ngài chưa bao giờ dừng lại. Vì tấm lòng quá lớn ! Tình thương quá rộng !

Có thể nói, ngài – vị Hồng y tân cử Phêrô Nguyễn Văn Nhơn – là vị mục tử của người Thượng, cho người Thượng và vì người Thượng. 

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm