Thứ Sáu, 17 Tháng Hai, 2017 14:01

Vấn đề thay đổi hay thêm bớt ngôn từ và hành động khi cử hành thánh lễ (P1)

Trong khi cử hành thánh lễ, có những thực hành tại Việt Nam đáng chúng ta phải quan tâm xem xét. Một trong những số đó là vấn đề thay đổi hay thêm thắt vào bản văn phụng vụ lời nọ lời kia hoặc có những hành động khác thường. Xin điểm qua một số thực hành sau:

Thay đổi hoặc thêm bớt ngôn từ

Đã hát ca nhập lễ rồi nhưng vẫn đọc ca nhập lễ ghi trong Sách lễ Rôma (Quy chế Tổng quát Sách lễ Roma [= QCSL], số 48).

Vị chủ tế đọc cả hai Lời nguyện Nhập lễ trong một thánh lễ trong khi quy luật Phụng vụ xác định mỗi thánh lễ chỉ đọc một Lời nguyện Nhập lễ riêng của thánh lễ đó mà không được phép phối hợp hay thay đổi lời nguyện đã được Giáo hội quy định (Quy chế Tổng quát Sách lễ Roma [= QCSL], số 54, 363). Nếu có nhiều lễ trùng nhau và được mừng trong một ngày, vị chủ tế phải chọn thánh  lễ có vị trí ưu tiên hơn theo “Bảng ghi ngày Phụng vụ” ở đầu Sách lễ Rôma. Nếu các lễ bằng nhau thì sẽ chọn lễ nào liên quan đến cộng đoàn nhiều hơn, còn bỏ các lễ khác.1

Thay vì bắt đầu ngay với câu “Bài trích sách…” hay “Bài trích thư…” thì độc viên Sách Thánh đọc cả chữ “Bài đọc 1”, “Bài đọc 2” rồi đọc cả những chữ viết nghiêng tóm tắt trước mỗi Bài đọc (NTTL 10).

Trong khi giảng, thay vì dựa vào một khía cạnh nào đó của bản văn Kinh Thánh hoặc bản văn phụng vụ của ngày lễ hoặc mầu nhiệm được cử hành hôm đó để giảng, thừa tác viên giảng lễ lại dùng giảng đài để nói về chính trị, những vấn đề phàm tục hay la mắng giáo dân (GL, điều 767 #1; QCSL 65; BTCĐ 67).

Trong khi đọc Kinh nguyện Thánh Thể:

Tư tế chèn thêm vào những ý lễ cụ thể cầu cho người còn sống (cầu cho người xin lễ được bình an, sức khỏe, khỏi bệnh, buôn bán làm ăn phát đạt…) vốn chỉ sử dụng cho Kinh nguyện Thánh Thể I (Nghi thức Thánh lễ [= NTTL], số 85) và trong thánh lễ có nghi thức riêng, chẳng hạn như: thánh lễ Khấn dòng, Truyền chức, Hôn phối;2

Tư tế chèn thêm vào một lô những ý lễ cầu cho các linh hồn [vào giữa Kinh nguyện Thánh Thể II hoặc III] dù không mặc lễ phục tím và không cử hành bài lễ “Cầu cho tín hữu đã qua đời” (NTTL 105, 115; QCSL 381, 355);3

Tư tế đọc thêm tên vị thánh vào Kinh nguyện Thánh Thể vốn dĩ không được phép thêm (Kinh nguyện Thánh Thể II). Đúng ra, Giáo hội chỉ dự liệu cho các tư tế thêm tên của thánh quan thầy hay thánh mừng kính theo ngày trong Kinh nguyện Thánh Thể III và 4 Kinh nguyện Thánh Thể cầu cho những nhu cầu khác nhau (I, II, III, IV) mà thôi;

Tư tế tự ý thêm danh tính các Đức Giám mục mà luật Phụng vụ không đòi hỏi phải thêm vào như tên của các Đức Giám mục ngoài giáo phận [dù một trong số các ngài làm chủ tế] và tên của Đức Giám mục về hưu (NTTL 105; QCSL 149; Notitiae 45 (2009) 308-320).4

Trong lời cầu nguyện “Lạy Chúa Giêsu Kitô, Chúa đã nói với các Tông đồ rằng: Thầy để lại bình an cho các con...” thuộc nghi thức hiệp lễ,  đến câu “xin đoái thương ban cho Hội Thánh được bình an…” tự tiện thêm vào các đối tượng khác đại loại như “xin đoái thương ban cho Hội Thánh [cho giáo phận, cho giáo xứ , cho giáo khu, cho các gia đình chúng con…] được bình an” (NTTL 126).   

Đọc ca hiệp lễ rồi nhưng vẫn hát bài ca hiệp lễ hoặc không đọc / hát ca hiệp lễ đang khi linh mục rước lễ (NTTL 136; QCSL 86-87).

Trong lời chào cuối lễ, thay vì theo bản văn Phụng vụ là “Lễ xong, chúc anh chị em đi bình an” lại thay bằng một câu chào tạm biệt có tính cách xã giao ngoài đời, đại loại như “Lễ xong, chúc anh chị em luôn được bình an” hay “Lễ xong, chúc anh chị em một ngày mới bình an”…(NTTL 144; QCSL 185). Công thức Giáo hội muốn không phải đơn giản chỉ là giải tán một nhóm người, nhưng phản ánh thời khắc cộng đoàn Thánh Thể được sai đi truyền giáo và hiện thực hóa ơn gọi tông đồ của Dân Chúa.5 Họ được sai đi phục vụ Ngài giữa lòng thế giới qua những trách vụ hằng ngày của mình, tiếp tục sứ vụ mà Chúa Giêsu đã khởi sự (x. Ga 20, 21; 17, 18; 15, 16; Lc 4, 18-19).6

Thay đổi hoặc thêm bớt hành động:  

Nhẽ ra nên đứng tại ghế chủ tọa để bắt đầu thánh lễ, vị chủ tế thường đứng tại bàn thờ (NTTL 1; QCSL 50, 124; Lễ nghi Giám mục [= LNGM], số 42, 47; Sách Các Phép, số 1153).7

Rước Sách Bài Đọc thay vì Sách Tin Mừng trong đoàn rước đầu lễ (QCSL 117, 120, 122, 133,  172, 173, 175, 306).8

Độc viên Sách Thánh mang Sách Bài Đọc theo mình khi tiến lên giảng đài trong khi QCSL 128 nói rằng Sách Bài Đọc được đặt sẵn trên giảng đài trước thánh lễ (QCSL 128); hoặc độc viên Sách Thánh vội vàng bước đi đến giảng đài đang khi chủ tế đọc lời tổng nguyện hay lời nguyện nhập lễ (QCSL 117, 122).

Phó tế hay linh mục công bố Tin Mừng và giảng lễ tại bàn thờ thay vì tại giảng đài (QCSL 58, 134). Trước lúc công bố, họ dang tay chào cộng đoàn bằng công thức: “Chúa ở cùng anh chị em” trong khi đó, luật Phụng vụ quy định là chắp tay vào lúc này (QCSL 124, 134, 148, 167). Khi công bố xong, thay vì chỉ đọc “Đó là Lời Chúa” mà không có hành động nào, họ lại vừa đọc “Đó là Lời Chúa” vừa giơ cao Sách Tin Mừng / Sách Bài Đọc lên cao. Thật ra, câu “Đó là Lời Chúa” trước tiên quy chiếu đến bản văn vừa được công bố [hay Lời Chúa được mọi người trong cộng đoàn tiếp nhận vào tâm hồn họ] chứ không phải quy chiếu về cuốn sách chứa đựng bản văn.9

Người tham dự thánh lễ nhìn vào sách và cùng đọc Tin Mừng với phó tế hay linh mục công bố Tin Mừng trong khi Giáo hội quy định rằng: “Việc công bố Tin Mừng của Chúa cho mọi người là một trong những bổn phận chính yếu của những thừa tác viên có chức thánh” (Giáo Luật [=GL], số 762; QCSL 59).

Những người thu tiền thau đồng loạt nâng giỏ tiền lên cao đồng thời và đồng nhịp với hành động nâng cao đĩa bánh và chén rượu của vị chủ tế trong phần chuẩn bị lễ vật. Trong khi đó, theo Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma số 141 và Nghi thức Thánh lễ số 23: Tại bàn thờ, vị tư tế tiếp nhận đĩa thánh có bánh; rồi hai tay cầm đĩa, nâng lên cao hơn mặt bàn thờ một chút; về chén rượu cũng vậy, theo Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma số 142 và Nghi thức Thánh lễ số 25, vị tư tế hai tay cầm chén, nâng lên cao hơn mặt bàn thờ một chút mà thôi, vì lúc này, bánh rượu chưa trở thành Mình Máu Chúa Kitô.

Vị chủ tế vừa đọc [hay hát] “Đây là mầu nhiệm đức tin” vừa đưa cả hai tay chỉ vào đĩa thánh và chén thánh trên bàn thờ.

Trong khi đọc Kinh Lạy Cha, các tín hữu dang tay ra như các linh mục dù Hội đồng Giám mục Việt Nam chưa chấp thuận cử điệu này (QCSL 43, 152, 237); hoặc vừa dang tay ra vừa nắm lấy tay nhau (NTTL 124). Xét theo quan điểm biểu tượng, không nên nắm tay nhau khi đọc Kinh Lạy Cha, vì hành động này sẽ như là đi trước và sao chép y như dấu hiệu bình an. Hậu nhiên, sẽ rút mất giá trị của dấu hiệu trao chúc bình an sẽ diễn ra sau đó một chút.10

Thay vì dang tay rồi chắp tay lại và nói “Bình an của Chúa hằng ở cùng anh chị em”, vị chủ tế lại úp hai tay trên đĩa thánh và chén thánh rồi xòe ra hướng giáo dân như thể muốn nhấn mạnh bình an từ Thánh Thể Chúa đi tới họ (NTTL 127). 

Chủ tế đi xuống các hàng ghế ngoài cung thánh để chúc bình an. Trong khi đó, theo Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma số 82: Mỗi người chỉ nên chúc bình an cho những người gần nhất một cách đơn giản thôi; và theo Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma số 154: Vị tư tế có thể chúc bình an cho các người giúp lễ, nhưng ngài phải luôn luôn ở trên cung thánh, để khỏi làm xáo trộn cuộc cử hành. Nếu có lý do chính đáng, ngài cũng có thể trao bình an cho vài giáo dân, nhưng vẫn ở trên cung thánh.11 Thực hành này bị ngăn chặn vì có nguy cơ lôi kéo người ta một cách bất thường chú ý đến cá nhân vị chủ tế, như thể ngài chứ không phải Thiên Chúa là tác nhân, là nguồn mạch bình an. Thực sự, chỉ Đức Kitô mới là Đấng trao ban bình an cho chúng ta.

Thừa tác viên ngoại thường cho rước lễ đến nhà tạm và lấy Mình Thánh Chúa. Theo đúng ra, họ không được lên bàn thờ trước khi chủ tế rước lễ xong và luôn nhận bình thánh từ tay chủ tế (QCSL 162).12

Các vị đồng tế hôn bàn thờ lúc kết lễ mà thật ra vào thời điểm này, chỉ dành cho chủ tế và phó tế mà thôi (QCSL 250-251).13

Chiếu theo truyền thống, luật Phụng vụ và thần học nghi thức, phải khẳng định rằng những thực hành thay đổi ngôn từ và hành động nêu trên là không cần thiết, không theo luật và thiếu nền tảng thần học.

Điều này đòi hỏi chúng ta trở về với đề tài: luật Phụng vụ được áp dụng ra sao; cũng như xem xét thẩm quyền nào có thể thay đổi bản văn hoặc những cử chỉ và tư thế trong Phụng vụ Thánh lễ. 

(còn nữa)

Lm. Giuse Phạm Đình Ái, Dòng Thánh Thể (SSS)

_________________________________________________________

1 Xc. Những Quy định Tổng quát về Năm Phụng vụ và Niên lịch, số 59.

2 Xc. Lễ nghi Giám mục [=LNGM],  các số 516; 541; 561; 593; 610; 765; 786; Quy chế Tổng quát Sách lễ Roma [= QCSL], số 15.

3 Các Bài lễ này nằm trong Sách lễ Roma (ấn bản tiếng Việt 1992) từ trang 996-1034; Xc. Joanne M. Pierce - Richard Rutherford, “Mass and Prayers for Various Circumstances and Masses for the Dead” trong A Commentary on the General Instruction of the Roman Missal, Edward Foley (ed) (Minnesota: A Pueblo, The Liturgical Press, 2001), 441.

4 Xc. ĐGH Bênêđíctô XVI, Tông Huấn Sacramentum Caritatis, số 39; Edward McNamara, “Mentioning Bishops in the Eucharistic Prayers”; Notitiae 45 (2009) 308-320; Acta Apostolicae Sedis 64 [1972], 692-694.

5 Xc. Sacramentum caritatis, số 51; FABC IX, E.3; Xc. ĐGH Gioan Phao lô II, Ecclesia de Eucharistia, số 20; Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo [GLCG], số 1070; QCSL, số 90c.

6 Xc. Jeremy Driscoll, OSB, What Happens at Mass (Chicago: Liturgy Training Publications, 2005), 132-134.

7 Xc. Johannes H. Emminghaus, The Eucharist - Essence, Form, Celebration (Minnesota: The Liturgical Press, 1997), 112; Joseph Degrocco, A Pastoral Commentaty on theGeneral Instruction of the Roman Missal (Chicago:Liturgy Training Publication, 2011), 34-35; Edward Foley, “The Structure of the Mass, Its Elements and Its Parts” trong A Commentary on the General Instruction of the Roman Missal, trong Edward Foley (ed) (Minnesota: A Pueblo, The Liturgical Press, 2007), 140. 237-238.

8 Xc. M. Basil Pennington, The Eucharist - Yesterday and Today (St. Pauls, 2000), 44-45.

9 Xc. Dennis C. Smolarski, Q & A: The Mass, 82; Erasto Fernandez, sss, The Eucharist - Step by Step (Mumbai: St. Paul, 2005), 47.

10 Xc. McNamara, “Holding Hands at the Our Father” trong Zenit Daily Dispatch (18-11-2003); Kevin W. Irwin, Responses to 100 Questions on The Mass (New Jersey: Paulist Press, 1999), 117-118; Dennis C. Smolarski, Q & A: The Mass (Chicago: Liturgy Training Publications, 2002), 61; Xc. Notitiae 11 (1975), 226.

11 Xc. Huấn thị Bí tích Cứu độ (= BTCĐ), số 72; QCSL 239.

12 Huấn thị Liên Bộ Ecclesiae de mysterio (15-08-1997), đoạn 8, số 2.

13 Xc. Joseph DeGrocco, A Pastoral Commentaty on the General Instruction of the Roman Missal (Chicago: Liturgy Training Publication, 2011), 148; McNamara, “Veneration of Altar at End of Mass” trong Zenit Daily Dispatch (10-07-2007).

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm