Thứ Tư, 15 Tháng Bảy, 2015 09:27

Vận dụng văn hóa địa phương vào mục vụ và diễn tả đức tin

Như một cơ duyên, tôi và một số anh em sinh viên đã được tới vùng Fyan, nơi có đông đồng bào Dân Tộc Thiểu Số từ thập niên 1950, khi vùng Fyan vẫn còn là vùng rừng núi hoang vu. Xa xa nơi những chân núi là những buôn làng Dân Tộc Thiểu Số Kơho thuộc chi Mạ, Srê, Mơnong…Họ sống quần cư với nhau, với những tập tục, truyền thống đã có từ lâu đời. Đây là những buôn làng như Sôăn, Đarwing, Koya, Riông Srê, Lombrềt, Sérignac, Riông-Bôliêng, Đambrách, Đape, Đầm Voi, Phitô, Tân Thanh...

Cha Lợi, thứ hai từ trái qua, trong một chuyến mục vụ đồng bào dân tộc

Người Dân tộc sống quần cư nhưng có tính du canh du cư. Do đó, lúc xưa họ di chuyển làng buôn đi khắp nơi, nơi nào đất tốt, dễ sống là họ cắm lều tại đó. Tuy nhiên, vì sống xa văn minh, ít tiếp xúc với người Kinh, không biết thuốc, không biết bệnh viện, không tới bác sĩ, nên có những trận dịch đã tiêu diệt cả một buôn làng. Cái may mắn của chúng tôi là đã có các cha Canađa đặt nền móng ở các Trung Tâm Truyền Giáo cho người Dân Tộc. Do đó, chúng tôi được tới và ở giữa làng những người Dân tộc. Việc đầu tiên của chúng tôi là học tiếng của họ. Thực tế, người Kơho không có chữ viết, chữ viết là do các cha MEP, các cha Canada dùng mẫu tự Latinh để viết cho dễ. Điều này giúp chúng tôi học ngôn ngữ Kơho hữu hiệu và mau chóng hơn. 

Nhờ đi thăm, tiếp cận và học tiếng với dân, chúng tôi cũng mạnh dạn nói về Chúa cho họ.?Đây là giai đoạn khởi đầu, giai đoạn mới đến với người nghèo bằng cách sống giữa họ và hòa nhập với đời sống của họ : học tập tục, truyền thống, học các truyện cổ tích, tục ngữ ca dao của họ để qua đó nói chuyện về Chúa cho họ. Một hôm, chúng tôi đi thăm một gia đình người Dân tộc Kơho, tôi thấy đang nấu một nồi gì trên bếp. Tôi hỏi bà cụ già : “Bà nấu cái gì đó ?”. Bà trả lời : “Tôi nấu khoai lang”. Rồi kể rằng: Năm nay bị mất mùa lúa, nên nhiều bữa gia đình phải ăn khoai thay cơm. Và bà vẫn vui cười. Khoảng 15 phút sau, cả gia đình đều có mặt, họ mời tôi ăn khoai với họ. Cái lạ lùng là mọi người đều vui và bữa khoai lang vẫn giòn giã tiếng cười. Cái huyền diệu và dễ thương của người Dân tộc là như thế. Đói họ vẫn vui và no họ cũng vui. Bà cụ già nói với tôi: “Chúa có lúc cũng ăn khoai như chúng ta”. Câu nói thật bất ngờ. Tôi bật cười. Nhưng thực sự, tôi rất cảm phục vì lòng tin, sự đơn sơ, chân chất núi rừng của bà. Thiên Chúa luôn yêu thương mọi người, đặc biệt Ngài yêu thương những người nghèo.

Giáo họ B'Đơ, giáo xứ Tân Hóa - GP Đà Lạt

Sống với anh chị em Dân tộc Thiểu số, chúng tôi cũng khám phá ra dân tộc nào cũng có một nền văn hóa rất đáng nể. Anh chị em Jorai, Kơho hay anh chị em Dân tộc vùng cao miền Bắc đều có một kho tàng văn hóa phong phú, một cơ cấu xã hội đặc biệt, một nền văn chương khẩu truyền quý giá gồm những bài tục ngữ, ca dao, bài hát, chuyện cổ hay thần thoại... Anh chị em Dân tộc Thiểu số có những đức tính tự nhiên rất đáng phục. Vì ngôn ngữ bất đồng, nên chúng tôi phải học ngôn ngữ để có thể tiếp xúc và hiểu anh chị em Dân tộc, bởi ngôn ngữ là chìa khóa đi vào một dân tộc, đi vào lòng người.

Vào thập niên 1960, khi tiếp xúc với anh chị em Dân tộc, họ chưa biết bác sĩ, chưa tới bệnh viện. Họ tin vào Thầy Cúng, Thầy Mo. Đau ốm là cúng: giàu cúng trâu, vừa cúng heo, dê, vịt gà?Cúng tế cầu khẩn Thần Linh nhưng bệnh vẫn bệnh, chết vẫn chết. Do đó, các cha Canađa và chúng tôi đã dùng những viên thuốc sốt như Nivaquine, Aspirine, Élixir parégorigue (thuốc đau bụng), những viên thuốc màu xanh màu đỏ, màu trắng, màu vàng. Vì anh em Dân tộc lúc đó chưa bị lờn thuốc nên  bệnh nào uống những loại thuốc này cũng hết. Họ đồn các cha và chúng tôi là Thần còn lớn hơn các Thầy Cúng, Thầy Mo. Nên, đương nhiên các cha và chúng tôi dễ đến với họ, và vì được tôn là Thần, chúng tôi nói về Chúa cho họ và cắt nghĩa cho họ đừng cúng tế vì cúng tế tốn tiền, nhưng phải cầu nguyện và cầu nguyện với Đấng tối cao là Thiên Chúa.

Khi đã biết ngôn ngữ của người Dân tộc, việc đầu tiên là đem áp dụng vào tập tục, truyền thống cầu nguyện của người Dân tộc theo như họ thường làm. Các cha Canađa và chúng tôi đã dùng các Kinh của Giáo Hội dịch ra tiếng Dân tộc, các bài hát Thánh Ca bằng tiếng Pháp được dịch ra tiếng Dân tộc để hát trong các giờ kinh, giờ hội họp, giờ lễ. Đặc biệt Thánh lễ bằng tiếng Dân tộc được Giáo Quyền cho phép thử nghiệm đã được đem áp dụng để họ hiểu Thánh Lễ bằng chính ngôn ngữ của họ. Ngoài ra để biểu lộ đức tin, nhất là vào Mùa Chay, chúng tôi đã lấy cung điệu như anh chị em Dân tộc hay hát vè, hát đuổi áp dụng vào cuộc thương khó của Chúa Giêsu. Vận dụng văn hóa truyền khẩu, hát đối, hát đuổi, anh chị em Dân tộc đã rất sốt sắng diễn tả đức tin của họ. Trong Phụng vụ, các bài Kinh Thánh cũng được dịch ra tiếng Dân tộc, nhờ họ hiểu được các đoạn Thánh Kinh và coi đó như những chuyện cổ tích của cha ông họ.

Nhà thờ giáo họ Đạ Nghịch thuộc giáo xứ Tân Bùi - GP Đà Lạt 

Trong phép rửa khi xưa, thánh Gioan Tẩy Giả đã đưa những hối nhân dìm mình xuống nước như hành động sám hối, tẩy sạch tội lỗi. Đối với anh chị em Dân tộc phạm tội ngoại tình hoặc loạn luân là đụng chạm đến Trời Đất. Theo lệ làng bị phạt rất nặng và để đền bù tội lỗi, đôi trai gái phải ra giữa dòng suối cởi bỏ áo quần, dìm mình xuống nước như hành động ăn năn, bỏ trôi áo quần cũ như cởi bỏ tội lỗi, rồi sau đó mặc bộ quần áo mới như trở thành người mới. Sau này, chúng tôi đem tập tục văn hóa này vận dụng vào phép rửa tội là dìm hối nhân dưới dòng suối.

Có một số nơi, một số buôn làng, người Kơho, đặc biệt người Mạ, Mơnông, và người Jorai dìm mình xuống nước để xóa hết những điều xui xẻo, những điều gở, điều quấy; chúng tôi đã vận dụng phong tục văn hóa này đem nước phép rảy trên một số người gặp điều xui, điều gở và cắt nghĩa cho họ Nước Thánh do ơn của Chúa sẽ tẩy uế hết mọi điều gở, điều xui. Người Dân tộc nhiều khi bị nghi oan, bị kiện tụng, họ minh oan bằng việc dìm mình trong nước; vận dụng việc cầu nguyện và đặt tay chúc lành vào tập tục này, chúng tôi đã làm cho nhiều người Dân tộc tin vào quyền phép và lòng nhân từ của Chúa.

Người Dân tộc Kơho tin vào các Thần, đặc biệt Thần Gió, Thần Đá, Thần Thuồng Luồng và người Jorai tin Nước - Lửa - Gió trong các nghi lễ hiếu thảo với Mẹ Cha, kết nghĩa anh em. Chúng tôi nói về Chúa Thánh Thần cho họ và chúng tôi giải thích để họ tin vào sức mạnh của Chúa Thánh Thần và nhờ đó họ biểu lộ lòng tin của họ. Liên quan tới Bí Tích Thánh Thể, chúng tôi giải thích Chúa Giêsu đã chết, đổ máu trên thập giá để cứu độ con người, Ngài là Con Chiên tế sát, là hiến lễ hy sinh duy nhất dâng lên Chúa Cha. Bởi vì, người Dân tộc dù Jorai, hay một Dân tộc Thiểu số nào đó, thường trong các nghi lễ như lễ hội cầu mưa của người Jorai, lễ hội cầu mùa của người Kơho, và của cộng đồng người Dân tộc Tây nguyên nói chung, luôn được chuẩn bị kỹ càng: vật tế như heo, gà, ghè rượu… Hội đồng già làng chọn một thanh niên trai tráng để cột cùng với vật hiến tế (thường là một con gà trống) và làm lễ. Già làng khấn cầu và thông báo, cầu mong Thần linh cho hạt mưa to, mọi người tập trung tát nước vào con gà và người thanh niên được chọn. Phần lễ tát nước kết thúc, cả làng trở về nhà Rông để làm lễ tạ ơn Thần linh. Một cây nêu và ghè rượu có đặt bên trên là gan gà và tiết heo đã sẵn sàng, già làng khấn mời rượu các Thần linh. Sau đó, tất cả cùng hô to và thanh niên trai tráng trong làng quây quần để thưởng thức rượu thiêng do Thần linh ban cho. Rồi tất cả đều chung vui, chia sẻ, ăn thịt và uống rượu ăn mừng. Trước các nghi lễ như thế và trước truyền thống linh thiêng, chúng tôi đã cố gắng vận dụng dùng các nghi lễ này để hướng họ về điều cao siêu, đó là các linh mục đã dâng lễ và Chúa đã ban bánh trường sinh để nuôi sống con người… Thường trong khi ăn, các thanh niên nam nữ múa nhảy theo nhịp điệu cồng chiêng. Điều này giúp những người làm việc truyền giáo cho anh chị em Dân tộc Thiểu số nghĩ ra những cung điệu nhẹ nhàng áp dụng vào lúc dâng lễ vật. Nghi lễ đâm trâu của người Dân tộc Thiểu số Tây nguyên còn giúp chúng tôi suy nghĩ về việc tế sát con vật để dâng lên Thiên Chúa. Chúng tôi đã giải thích cho người Dân tộc hiểu việc tế hiến là việc quan trọng và trong Thánh Lễ Chúa Giêsu đã tự hiến cho Thiên Chúa Cha để cứu rỗi chúng ta. Nhờ được giải thích và hướng dẫn, nên họ đã biểu lộ đức tin cách mạnh mẽ và sâu sắc.

Nét văn hóa đẹp và gợi cảm nhất là văn hóa cồng chiêng và các nhịp điệu, nhịp múa của các Dân tộc Thiểu số

Nét văn hóa đẹp và gợi cảm nhất là văn hóa cồng chiêng và các nhịp điệu, nhịp múa của các Dân tộc Thiểu số. Với người Jorai, văn hóa cồng chiêng là số một… Người Kơho cũng có những bộ cồng chiêng và có văn hóa cồng chiêng của họ. Anh chị em các Dân tộc Thiểu số khác cũng có những nhạc cụ như khèn, kơmbuot, sáo…; các nhịp điệu, vũ điệu đem vận dụng vào việc dâng hoa, rước kiệu sẽ giúp người Dân tộc Thiểu số biểu lộ lòng tin đối với Thiên Chúa, và lòng cậy trông đối với Đức Mẹ và các Thánh một cách chân thành.

Thông thường lễ hội của mỗi dân tộc đều có tính chất và ý nghĩa khác nhau. Lễ hội truyền thống phải giữ gìn sự độc đáo riêng. Do đó, việc các Dân tộc được biết Chúa và họ gắn bó với Chúa là do người làm truyền giáo biết vận dụng văn hóa của từng lễ hội vào việc hướng họ nhận ra Chúa. Chẳng hạn như lễ hội trùm chăn của người Hà Nhì - Lao Cai, lễ hội Cầu Mùa của đồng bào Nùng - Lạng Sơn; nghi lễ “Sâu Khấu” của người Mông - Yên Bái; lễ cấp sắc người Tày và người Giáy - Hà Giang; lễ tết độc đáo của người Tày - Hà Giang. Tất cả những lễ hội này đều có một cái gì đó linh thiêng theo truyền thống, tập tục và tín ngưỡng của các Dân tộc Thiểu số. Điều quan trọng là người làm việc truyền giáo biết vận dụng các nét văn hóa độc đáo của từng Dân tộc để đưa họ lên cao hơn, vượt qua niềm tin thông thường của họ, như chúng tôi giải thích cho họ thấy có Đấng cao hơn mọi Thần linh : Đấng ấy là Thiên Chúa và các linh mục - những người đang hướng cho họ hiểu qua truyền thống, tập tục, văn hóa của họ, có Đấng đang điều khiển và giúp đỡ họ.

Hút thuốc lá là một thói quen của nhiều dân tộc miền núi, ngay cả đàn bà và trẻ em. Tuy nhiên, vì phục vụ anh em Dân tộc, chúng tôi đã giải thích và cho thấy tác hại của việc hút thuốc. Thay vào đó, chúng tôi hướng họ ngồi chung với nhau cầu nguyện để quên cả thuốc lá.

Uống rượu cần là nét văn hóa độc đáo của các dân tộc miền núi. Thiếu rượu cần trong các bữa tiệc, lễ hội không còn là nét đẹp văn hóa nữa. Uống sao để luôn giữ được nét đẹp lại là một nghệ thuật. Chúng tôi lấy rượu trắng cao độ, rồi lấy quẹt đốt, rượu bốc cháy và nói nếu uống nhiều, uống quá ruột gan cũng sẽ bị cháy như vậy ! Chúng tôi gây ý thực và tập cho anh em Dân tộc uống ít để giữ nét văn hóa truyền thống và thay vì tụ tập để uống rượu, chúng tôi tập cho họ lần chuỗi.

Nét đẹp văn hóa của mỗi dân tộc biểu lộ nơi các y phục của dân tộc đó. Tới Nhà thờ, tham dự các thánh lễ, chúng tôi khuyến khích anh chị em Dân tộc Thiểu số mặc y phục truyền thống của mình để tham dự các nghi lễ, và cử hành phụng vụ, rồi giải thích các thánh cũng mặc y phục truyền thống của dân tộc mình.

Sau nhiều năm phục vụ và sống với anh chị em Dân tộc Thiểu số, trên đây là một số kinh nghiệm trong việc vận dụng văn hóa địa phương vào mục vụ và để biểu lộ đức tin. Chúng tôi nhận ra những điều đã, đang và sẽ thực hiện đem lại những điều tích cực, và anh chị em Dân tộc Thiểu số đã biểu lộ đức tin của mình một cách rất sâu sắc. Thật vậy, như những anh em phục vụ cho người Jorai đã nói: “Văn hóa là gì nếu không phải là sự thích nghi hay đẹp của con người xã hội với thế giới chung quanh. Thế giới đó, tàng ẩn Lời Thiên Chúa nói, kêu gọi và dẫn dắt con người đến gặp Ngài. Nếu ta tin Thiên Chúa đã tạo dựng nên tất cả và đã giải phóng tất cả trong Đức Kitô, chúng ta sẽ thấy Thiên Chúa hằng làm việc nơi các dân tộc”.

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi

 

 

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm