Thứ Năm, 12 Tháng Bảy, 2018 14:00

Vì một Giáo hội của người nghèo

Con đường loan báo Tin Mừng của Giáo hội luôn chọn lựa người nghèo làm đích đến. Trong Tông huấn “Niềm vui Tin Mừng” (Evangelii Gaudium), Ðức Giáo Hoàng Phanxicô cũng nhấn mạnh: “Mỗi cá nhân và mỗi cộng đồng Kitô hữu được kêu gọi trở thành một dụng cụ của Thiên Chúa cho việc giải phóng và thăng tiến người nghèo, giúp họ là thành viên đầy đủ của xã hội” (số 187). Từ những trải nghiệm thực tế trong việc đến với người nghèo, các vị mục tử, nữ tu, giáo dân đã có những sẻ chia, thao thức…

 

Cái tình, sự chân chất của người nghèo

Trong hành trình mục vụ của mình, Đức cha Anphong Nguyễn Hữu Long, Giám mục phụ tá GP Hưng Hóa đã gặp nhiều cảnh đời khó nghèo. Hình ảnh đọng lại trong ngài là cái nghèo dai dẳng đeo bám anh chị em từ đời nọ đến đời kia. Nhiều người nghèo đến không có cả những gì tối thiểu cần cho cuộc sống. Họ không chỉ là những người dân tộc thiểu số ở vùng Thượng Du Tây Bắc (Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai), mà cả những người Kinh ở vùng đồng bằng Bắc Bộ (Phú Thọ, Yên Bái, Hòa Bình). Đức cha Anphong ngậm ngùi: “Tôi nhớ như in cảnh tượng hai em bé H’mông trần truồng đang ngồi nghịch với cái ‘máy duôi sắn’ (dụng cụ để xắt lát sắn) ở một bản trong tỉnh Sơn La, mà tôi ghi chú trong album hình riêng của mình là ‘Hai kỹ sư nhí đang tìm cách cải thiện máy xắt sắn’. Tôi cũng nhớ lần đến dâng lễ ở nhà thờ Tà Ghênh, huyện Trạm Tấu (Yên Bái), nhìn ra sân cuối nhà thờ, thấy mấy em bé H’mông quần áo mong manh, tả tơi đang chơi đùa với nhau trong cái lạnh gần 0 độ. Mình thì co ro trong chiếc áo ấm dày mà vẫn thấy không đủ ấm, còn các em thì nhởn nhơ vui đùa giữa cái lạnh cắt da thịt, trong thiếu thốn đủ thứ. Nhớ cả cảnh tượng một đoàn bác ái từ thiện từ Đà Nẵng ra, mang theo bao nhiêu quần áo ấm, đến tặng cho bà con H’mông ở Giàng La Pán, huyện Trạm Tấu, Yên Bái. Sau lễ, chúng tôi mời bà con đến chọn tùy thích, lúc ấy có một, hai bà nói: ‘Cho cái này mình không ‘thít’ (thích) đâu, vì mình không quen mặc quần áo người Kinh, cho mình mì ăn liền ‘thít’ hơn!’… Và tôi cũng nhớ đến những gia đình nghèo ở tỉnh Phú Thọ, bao năm rồi vẫn ở trong căn nhà bằng lá cọ rách nát, trời mưa thì trong nhà cũng giống như ngoài sân”. Ngài cũng cho biết đã rất cảm mến người H’mông, vì không chỉ chất phác, thật thà, họ còn có sự tôn trọng đức tin mình bằng những cử chỉ đơn sơ nhưng khiến nhiều người nể phục. Đức cha nhớ lại một buổi dâng lễ tại Phù Yên, khi bà con được phát bánh mì, sau đó được phát tiếp tràng chuỗi Mân Côi. Mấy bà tay đang cầm bánh mì tỏ ra lúng túng khi nhận tràng chuỗi. Sau một thoáng suy nghĩ, họ bỏ bánh mì xuống dưới đất, hai tay nhận cỗ tràng hạt đeo vào cổ rồi mới cúi xuống lượm bánh mì lên. “Giả như tôi, chắc tôi kẹp ổ bánh mì vào nách rồi nhận tràng chuỗi, hoặc tay này cầm bánh mì, tay kia nhận tràng chuỗi! Còn người H’mông thì họ làm như thế đó. Nhận món quà thánh thiêng thì phải khác với nhận món quà vật chất chứ, họ như muốn nói như vậy!”, vị mục tử xúc động.

Đức cha Anphong Nguyễn Hữu Long trong chuyến chăm đồng bào H'Mông tại Phù Yên - Sơn La - ảnh: ĐQ

Nữ tu Maria Têrêsa Nguyễn Thị Đức, dòng Nữ Vương Hòa Bình, đang phục vụ tại giáo xứ Kim Thành (GP Ban Mê Thuột), nơi có 4.000 giáo dân, trong đó trên 3.000 người dân tộc thiểu số, chủ yếu là Êđê, với hơn 100 hộ nghèo, gần 200 hộ cận nghèo… cũng may mắn được sống và cảm được cho mình những cái nhìn riêng về người nghèo miền xa. Dì nhớ lại hơn chục năm trước, khi mới đặt chân đến đây, đời sống của bà con còn rất trống vắng, hiểu theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Trong buôn làng phần nhiều nhà cửa rách nát; nhiều người nằm liệt trong cái lều nhỏ, không có lấy một mái ấm nguyên vẹn; cả buôn chẳng có một nhà máy nước sinh hoạt nào, chẳng biết đến ánh sáng của đèn điện, tivi; các gia đình không có nhà vệ sinh để tắm rửa. Do không có đất canh tác nên người lớn thì làm thuê, làm mướn. Trẻ em chừng 9, 10 tuổi đã nghỉ học, theo cha mẹ nhặt hạt điều, đi rẫy… “Tôi đã được đi qua nhiều nơi, vào các thôn xa xôi hẻo lánh, nơi mà sinh hoạt còn lạc hậu. Nhìn cuộc sống của người dân tộc thiểu số, chúng tôi cảm thấy được thôi thúc để hòa nhập và nâng đỡ họ. Ở đây, tuy nghèo nhưng dân chúng hiền lành, chất phác. Họ không biết dối gạt ai hay mưu mẹo gì. Cái chân chất của những con người nghèo khổ ấy càng chạm vào tim chúng tôi”, nữ tu Maria Têrêsa trải lòng.

Hình ảnh hiền lành, chất phác và lòng đạo đơn sơ, bền bỉ của bà con nghèo Nam bộ cũng là những nét đọng lại trong lòng linh mục Martinô Nguyễn Hoàng Hôn, chánh xứ Rau Dừa ở Cà Mau, thuộc GP Cần Thơ. Xứ của cha hiện có số tân tòng chiếm trên 80%. Cha nhắc hoài một kỷ niệm khó quên về một cụ bà ngoại giáo hơn 70 tuổi ở xứ Cái Rắn xảy ra trước ngày cha về Rau Dừa. Trước đây, bà cụ sống phiêu bạt, rày đây mai đó, bán bánh dạo để nuôi người con tật nguyền và đứa cháu ngoại… Rồi được cha vận động xây cất tạm cho bà một căn nhà tình thương trên đất của một người dân cho mượn. Khi hay tin cha sắp chuyển đi xứ khác, bà đã đến nói: “Già này buồn lắm…, nhưng ông cha còn phải đi để giúp cho dân nghèo ở những nơi khác nữa, cầu Trời Phật độ cho ông cha luôn mạnh giỏi”. Rồi bà lật đật lấy một ít bánh chuối chiên bọc trong lá chuối đưa cha và rớm nước mắt: “Không có gì cho ông cha, chỉ có mấy cái bánh gởi ông cha ăn lấy thảo”. Cha nói người khó khăn thường hay vậy đó, nghèo của nhưng giàu lòng, thấy thương lắm nên luôn tìm cách vun vén cho họ.

Bà con xứ Cái Rắn nhận quà hỗ trợ - ảnh: HL

Linh mục Phaolô Phạm Trung Dong, chánh xứ Thánh Phaolô (TGP TPHCM) thì lý giải việc mình có nhiều hoạt động mục vụ cho người di dân vì nhìn thấy ở họ nhiều sự thiệt thòi nhưng rất nhiệt thành với nhau và với việc chung. Theo cha, con số dân nhập cư của Sài Gòn hiện nay khoảng 5 triệu người, trong đó có khoảng trên 300 ngàn di dân Công giáo. Họ ở khắp miền đất nước, đến thành phố này học tập, làm việc và sinh sống. Cha Phaolô bảo không bao giờ quên những hình ảnh não lòng của người xa quê còn in đậm trong tâm trí : “Các dịp lễ tết, vì không có điều kiện về quê, cả nhóm người ngồi khóc với nhau ở gác chuông, vì nhớ nhà, nhớ giáo xứ. Chúng tôi vào thăm phòng trọ của họ. Phần lớn chỉ với diện tích khoảng 12m2 (3mx4m) nhưng có đến 6 người sinh sống, trong góc phòng chỉ có bình nước lọc lấy miễn phí ở nhà thờ dùng cho cả một tuần, thêm bó rau muống đã héo khô. Bệnh thì nằm nhà chịu trận vì không có tiền mua thuốc… Cơ cực là vậy nhưng khi có một ai đó trong nhóm có việc nhà cần giải quyết là nhiều người cùng chung tay; hay khi nhà thờ cần là sẵn sàng giúp công, giúp sức…”.

 

Không chỉ nghèo cơm áo gạo tiền…

Qua kinh nghiệm sống và làm việc, hình ảnh một người nghèo với nữ tu M. Thecla Trần Thị Giồng (Dòng Đức Bà) không chỉ là nghèo cơm áo gạo tiền, bất lực hay khiếm khuyết về mặt thân xác, mà còn là cái nghèo tinh thần, nỗi đau nhân đôi. Với cảm nhận của riêng dì, “nghèo tinh thần” mới thực sự là nghèo, ngặt nỗi người ta khó nhận diện hoặc ít quan tâm để có thể cứu giúp kịp thời. Và trầm trọng nhất là cái nghèo của con tim: khô héo, vô cảm và chai cứng. “Đời người quý giá nhất là tấm lòng, tình cảm, tình thương mến dành cho nhau mà suối nguồn này đã cạn khô thì chúng ta chẳng khác gì đất đá sống cạnh nhau”, nữ tu M.Thecla nhận định. Sơ cũng nhắc đến cái nghèo của sự bất lực gồm những người sống trong tuyệt vọng, không điểm tựa, không được hiểu, được lắng nghe. Đó còn là người cô thế cô thân, có khi bị loại trừ và sống trong xa cách, bị dày vò cả nội giới lẫn ngoại giới, cùng cực hơn là còn chịu những nỗi nhục và sự bất công; có khi đau đớn nữa là do những người mình yêu thương trong gia đình, cộng đồng và cả cộng đoàn mình gây nên hoặc bởi sự thờ ơ, vô cảm của họ. Nhiều người đã cảm thấy cô đơn và bất lực ngay trong chính nhà mình, và thậm chí cả trong Giáo hội của mình. Thêm một loại nghèo khác là sự vô minh, vô định hướng mà dường như Giáo hội cũng như bản thân chưa để ý đủ, đó là những người (đa số là còn trẻ tuổi) đang sống không có mục đích, vô nghĩa, không biết làm gì với cuộc đời mình, ngày mai sẽ ra sao ? Vì nghèo ý chí, nghị lực nên đã buông xuôi, mặc cho dòng đời cuốn lôi và tệ hơn là tìm quên, ngụp lặn trong những sự tăm tối của bạo lực, tệ nạn… sống mà như đã chết. Sự suy thoái đạo đức cũng là một cái nghèo, khi mà cái tâm bị đồng tiền, lòng tham biến chất, làm ô nhiễm, méo mó…

Hai em bé H'Mông bên cái máy duôi sắn

Là một giáo dân quê ở Bảo Lộc, đang sống những tháng ngày tình nguyện giúp cộng đồng người dân tộc Bana tại vùng Mang Yang (tỉnh Gia Lai), ông Đinh Quang Vinh chia sẻ rằng, hình ảnh nghèo nơi ông đến là những bữa ăn quá giản đơn của người dân, có gia đình chỉ ăn cơm với muối và một ít rau rừng, hôm nào bắt được con cá ngoài suối hay con ếch, con nhái thì có thêm món nướng. Họ đi làm bữa đực bữa cái, có tiền là tiêu hết ngay, không dành dụm được gì. Khi cho con đi học nội trú, mặc dù đã được hỗ trợ phần lớn, chỉ phải đóng 10kg gạo và 150 ngàn đồng một tháng, nhưng với họ vậy cũng là quá khó. Song, cái thiệt thòi nhất của những người dân tộc ở đây, theo ông Vinh, là họ không được tiếp xúc với thế giới bên ngoài, ít có sự “thông truyền” với xã hội nên sự hiểu biết rất hạn chế, đời sống tinh thần vì thế cũng đơn điệu, nghèo nàn. Có thể gọi đây là cái nghèo tri thức, nghèo sự “mở ra” với cộng đồng nhân loại, và “nghèo” cả trong tính toán, tổ chức cuộc sống…

 

Chúng ta đã và đang sống vì người nghèo thế nào ?

Đức cha Anphong Nguyễn Hữu Long nhìn nhận rằng, giới Công giáo nói chung rất quảng đại trong việc bác ái, sẵn sàng chia sẻ vật chất với người nghèo: “Chúng tôi thường nhận được sự hỗ trợ từ bà con Công giáo ở trong Nam và chuyển đến bà con nghèo ở miền Bắc. Hễ lên tiếng là được đáp ứng ngay, rất đại lượng, vui vẻ. Tôi nhớ có 5 cháu bé còn học mẫu giáo và cấp 1 tại giáo xứ Bùi Phát (TGP TPHCM), khi tôi đến thăm, đã đem heo đất ra tặng một cách vui vẻ. Về nhà khui ra, tôi thấy những tờ giấy bạc mệnh giá nhỏ: hai ngàn, năm ngàn, mười ngàn, một ít tờ hai chục ngàn, năm chục ngàn, một trăm ngàn, nhưng tổng cộng ngót nghét bốn triệu đồng. Món quà quá lớn so với tuổi của các em, nhưng tấm lòng của các em còn lớn hơn. Một lần khác, ở giáo xứ Tân Mai (GP Xuân Lộc), một người mẹ chở đứa con trai nhỏ đến gặp tôi, trao cho một gói giấy to bằng hòn gạch. Đó là món quà tiết kiệm cậu bé tặng cho người nghèo. Hơn sáu trăm ngàn đồng, toàn là những tờ bạc mệnh giá một ngàn, hai ngàn, năm ngàn… Nhận những món quà ấy, tôi rất xúc động. Tôi vui khi nghĩ rằng các em này sẽ lớn lên như Chúa Giêsu, “càng thêm tuổi càng thêm nhân đức bác ái”, và mừng vì các em đã được mẹ cha tập biết mở lòng với người nghèo từ khi còn bé thơ”.

Linh mục Giuse Nguyễn Văn Uy, Giám đốc Caritas Giáo phận Xuân Lộc, Hiệu trưởng trường Cao đẳng Hòa Bình Xuân Lộc đã nhắc đến sáng kiến tổ chức Ngày Thế giới người nghèo của Đức Thánh Cha Phanxicô (đã cử hành lần đầu tiên ngày 19.11.2017) như một việc làm đánh thức lương tâm mỗi người Công giáo nói riêng và cộng đồng nhân loại nói chung. Với giáo phận Xuân Lộc, trước những cảnh nghèo, Caritas sẽ động viên những anh chị em có điều kiện gom góp giúp giải quyết trước mắt lương thực nuôi sống thể chất; dài hơi là động viên những công ty doanh nghiệp trong địa phương nhận người nghèo vào làm những công việc trong khả năng. “Chúng tôi đã xây trường dạy nghề để giúp các bạn trẻ có hoàn cảnh khó khăn một nơi học tập nghề nghiệp để tiến thân. Đó chính là trường Trung cấp nghề Hòa Bình của giáo phận Xuân Lộc đã hoạt động từ năm 2012 và nay là trường Cao đẳng Hòa Bình Xuân Lộc”, cha Giuse nói thêm.

Những việc làm của cha Phaolô Phạm Trung Dong minh chứng cho một Giáo hội không quên thành phần nhập cư, chẳng hạn như các đoàn thể, ca đoàn ở giáo xứ được mời gọi đón các bạn trẻ di dân vào sinh hoạt; các gia đình mở cửa đón các em đến đọc kinh, chia sẻ Lời Chúa; sân nhà thờ là sân chơi, nơi sinh hoạt cho mọi người; nhiều hoạt động bác ái như lớp học tình thương, các lớp dạy nghề được mở ra cho con em di dân…

Ông Đinh Quang Vinh, người - như đã kể, đã tình nguyện sống cùng cộng đồng người dân tộc thiểu số một năm nay - nói ông đã tận mắt nhìn thấy các linh mục, tu sĩ nam nữ một số dòng và nhiều giáo dân hiện diện trên vùng cao xa xôi để phục vụ một cách tận tụy. Hằng năm lại có các đoàn từ thiện từ miền xuôi đến với người dân tộc nghèo để làm bác ái. Mùa hè thì hay có các nhóm sinh viên tình nguyện nói chung và sinh viên Công giáo nói riêng đến giúp con em người dân tộc học chữ, mở mang kiến thức về văn hóa, xã hội cho bà con… “Nhìn chung, vẫn còn nhiều những thành phần Dân Chúa có những hoạt động bác ái xã hội hướng đến người nghèo rất quảng đại. Bản thân tôi là một giáo dân, khi có điều kiện và không vướng bận gia đình (bà xã đã mất, các con đã trưởng thành), cũng theo một linh mục là người thân lên đây giúp bà con dân tộc về giáo dục một thời gian…”, ông Vinh cảm nhận.

Nói chung, như cha Martinô Nguyễn Hoàng Hôn khẳng định, ngọn lửa phục vụ người nghèo vẫn cháy trong lòng Giáo hội, với đủ những thành phần. Cha kể ở những người mình gặp gỡ, những nơi từng ghé thăm, vẫn luôn bắt gặp những thao thức, trăn trở làm sao để giúp đỡ người nghèo.

Tất nhiên, đó mới chỉ là ở bề nổi. Nếu nhìn cái nghèo từ nhiều khía cạnh và nhận ra anh em xung quanh vẫn còn nhiều cái cần san sẻ, chúng ta, nói như cách của nữ tu M.Thecla Trần Thị Giồng, phải thấy có phần trách nhiệm của mình và nên chân thành cầu mong sự tha thứ của những người đang chiến đấu với nhiều cảnh nghèo khác nhau. Theo nữ tu M.Thecla thì: “Thật sự chúng ta chỉ cảm nhận được nỗi đau và mất mát, nhưng chưa nỗ lực đủ để cụ thể hóa bằng hành động... Tôi có cảm tưởng chúng ta còn thiếu lắng nghe, đồng cảm và gần gũi, nhất là để ở bên, ở với, và làm bạn cùng người nghèo, sẻ chia nỗi đau, âu lo, nhọc nhằn của họ. Của cải rất cần, nhưng tấm lòng cần hơn. Chúa đến không phải để nuôi dân cho bằng để ở cùng chúng ta, chia sẻ phận người, sống như chúng ta mọi đàng... Giáo hội là của người nghèo, chia sẻ phận nghèo với họ, nhưng thực tế nhà cửa của Giáo hội, dòng tu, giáo xứ thường to lớn quá, lắm khi sang trọng và quá xa cách với cảnh đời của những anh chị em nghèo khó. Tôi còn có cảm tưởng chúng ta có thể có quan tâm đến việc làm gì cho người nghèo, nhưng chưa phải là ở với họ, ở giữa họ…”. Sơ cũng thao thức: “Có lẽ một cây làm chẳng nên non, nhưng ba cây chụm lại thì sao? Giáo hội chúng ta không thiếu tiềm năng, làm sao để tiềm năng này không bị mai một vì sự thờ ơ hay chưa quan tâm đủ đến vấn đề này!”.

 

Hãy để trái tim đập cùng cái nghèo

Bàn về chuyện đồng hành với người nghèo, cha Giuse Nguyễn Văn Uy nghĩ đến những việc cần làm: “Trước hết là sự tôn trọng người nghèo, từ ánh mắt, cử chỉ, lời nói, cách cư xử, đừng để họ phải tủi thân thiệt phận vì thấp môi bé miệng. Và với tất cả tấm lòng yêu quý, tôn trọng, những người có điều kiện hơn hãy cùng liên kết với nhau để chia sẻ cho anh chị em nghèo những nhu cầu cần thiết cho cuộc sống mà họ đang thiếu thốn. Những nhà hảo tâm, những doanh nghiệp, có thể được hãy tạo công ăn việc làm cho người nghèo để chính đôi tay và sức lực của họ làm ra những chén cơm manh áo giúp cuộc sống của bản thân ngày một tốt hơnThêm nữa, Chính phủ đã có luật giáo dục nghề nghiệp, chủ trương xã hội hóa việc giáo dục nghề nghiệp. Các cơ sở Công giáo có thể tận dụng sự cởi mở thông thoáng này để mở những xưởng, trung tâm, trường dạy nghề cho con em người nghèo, giúp các em trưởng thành, hội nhập với cộng đồng xã hội, đứng vững bằng đôi chân của mình…”.

Nữ tu Maria Têrêsa Nguyễn Thị Đức đã đề cập đến những kinh nghiệm của dòng Nữ Vương Hòa Bình và của cả cá nhân là cùng ăn, cùng ở, cùng chia sớt mọi chuyện vui buồn với người nghèo : “Chúng tôi vẫn đang hợp sức với các cha xứ trong mục vụ xứ đạo và chăm sóc người dân tộc. Vừa chăm sóc, vừa huấn luyện một đội ngũ trẻ ở giáo xứ có thể tiếp sức trong các sinh hoạt để các phong trào giáo dân lớn lên. Dường như ở mặt nào có thể tiếp cận, giúp đỡ, chúng tôi đều tìm cách xoay xở hỗ trợ cho giáo dân. Trước hết là việc sống đạo, dạy cho họ biết Chúa, biết đi nhà thờ, cầu nguyện, giữ luật đạo. Về kinh tế, bên cạnh các cha có chương trình chung của xứ đạo, chúng tôi cũng có hình thức khác để đồng hành. Điều quan trọng nữa là thay đổi não trạng, giúp các em lớn lên trong một môi trường có giáo dục, được học giáo lý và văn hóa. Một ngày, các nữ tu vào buôn 2-3 lần thăm người già, người nghèo, mang đồ dùng, thuốc men trao tặng họ. Làm được cái gì có lợi ích thì làm!”.

Ở giáo xứ Rau Dừa của cha Martinô Nguyễn Hoàng Hôn có tình trạng dân nghèo bỏ đất bỏ vườn để đi làm ăn xa, nhiều người trẻ khi đi ra khỏi môi trường giáo dục gia đình, dần bị ảnh hưởng bởi nhiều thứ tiêu cực. Từ thực tế này, cha mở những lớp Kinh Thánh cho thanh thiếu niên, nhóm họp các em sinh hoạt trong họ đạo để trau dồi nhân bản, giáo dục nhân cách, kỹ năng sống, giúp các em có “sức đề kháng” khi ra ngoài va chạm với môi trường xô bồ. Và vì là xứ nghèo nên họ đạo vẫn tiếp tục với nhiều mục vụ bác ái như xây cầu nông thôn, nhà tình thương cho các gia đình khó khăn, không phân biệt tôn giáo; trao học bổng và quà cho học sinh nghèo hiếu học…

Trong khi dân từ quê rời xứ ra đi thì Sài Gòn lại là nơi tiếp nhận nhiều người đến lập nghiệp, mưu sinh. Vì thế, TGP TPHCM đã có những phương thức hỗ trợ di dân. Theo cha Phaolô Phạm Trung Dong - Trưởng Ban Mục vụ Di dân của giáo phận cho biết, con đường mà giáo phận đồng hành với anh chị em xa quê đó là đón tiếp - bảo vệ, giúp họ thăng tiếnhội nhập vào Giáo hội địa phương, như Đức Thánh Cha Phanxicô vẫn thường nhắc nhở. Ngoài ra, nét đặc thù của Sài Gòn là thiết lập các giáo điểm dành cho anh chị em nghèo nhập cư và những anh em vùng sâu vùng xa để họ được chăm sóc mục vụ, đồng hành với Tổng Giáo phận. Hiện nay, Tổng giáo phận đã có 22 giáo điểm và đang hướng tới 30 nơi khác.

Nữ tu M.Thecla Trần Thị Giồng đề cập đến sự góp công sức, thời giờ, khả năng và tấm lòng của mỗi người, là thứ mà sơ ví von là “tài nguyên” Chúa đã đặt sẵn cho chúng ta, làm sao tận dụng nó để anh chị em nghèo được hưởng nhờ. Theo ý sơ, có lẽ phần giúp cho người nghèo vật chất thì Giáo hội cần nhiều đến giáo dân, bởi họ có phương tiện nhiều hơn, gần gũi, am hiểu thực tế, đồng thời có phương tiện hơn phía linh mục, tu sĩ. Giáo hội nên tập trung hơn cho việc nâng đỡ người nghèo tinh thần, con đường này thích hợp với khả năng và chức năng của những mục tử và giới giáo sĩ, tu sĩ. Vị nữ tu - Tiến sĩ Tâm lý nhắc tới phương châm “lắng nghe để hiểu, nhìn lại để thương”, cùng với lời khuyên của thánh Phaolô “vui với người vui, khóc với người khóc”, qua đó gợi lên nơi người đồng hành thái độ cảm thông, giúp người đang gặp khốn khó tìm ra ý nghĩa cuộc sống, đứng dậy sau vấp ngã, dìu họ đi trong những giai đoạn tăm tối của cuộc đời. “Người nghèo rất nhạy cảm và dễ bị tổn thương, nên thái độ trân trọng và quan tâm sẽ giúp họ thấy mình có giá trị, thêm tự tin, an tâm đứng dậy và bước đi tiếp... Cánh cửa của nhà thờ, nhà tu cần luôn được rộng mở để ai cũng cảm thấy thoải mái ghé qua, thái độ của chúng ta phải như thế nào để người nghèo không ngại ngùng đến…”, dì Giồng nhận định và gợi ý.

Ngược xuôi với người nghèo nhiều năm, Đức cha Anphong Nguyễn Hữu Long rút ra được những kinh nghiệm thiết thực trong việc đồng hành cùng những mảnh đời khó nghèo, thiếu thốn. “Bàn tròn” xin được khép lại với lời của ngài như một đúc kết: “Để đồng hành với người nghèo, không chỉ giúp đỡ họ trong cảnh đói ăn, thiếu mặc, đó chỉ là giải pháp tạm thời, mà phải giúp họ thoát nghèo, vươn lên trong cuộc sống, xứng với nhân phẩm. Đồng hành là giúp người nghèo cái cần câu để họ có thể câu con cá. Nếu mọi người đều tâm niệm “ở đời muôn sự của chung”, biết lấy phần của mình mà giúp người nghèo thoát nghèo, thì đó mới thật là đồng hành với người nghèo. Họ không đi sau, nhưng đi ngang với chúng ta. Ta không dắt họ đi, nhưng là người giàu kẻ nghèo cùng nắm tay đi tới”.

 

Nhóm phóng viên báo CGvDT thực hiện

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm