Chủ Nhật, 31 Tháng Bảy, 2016 16:56

Xoay xở cùng anh em sắc tộc

Sau khi thụ phong linh mục, cha Phêrô Đỗ Đình Dục, chánh xứ Ea Tul GP Ban Mê Thuột đã gắn bó với anh em dân tộc suốt chặng đường 11 năm nay và đã góp phần giúp họ bỏ đi nhiều phong tục cổ hủ.

Bén duyên Ea Tul

Vốn là người Kinh “chính hiệu” nhưng với nước da đen sạm, nét khắc khổ trên gương mặt, cùng vẻ giản dị và cách nói chuyện lơ lớ khiến người đối diện dễ lầm tưởng cha là một “ông người Thượng”. Cha bông đùa, có lẽ gắn bó cùng anh em dân tộc bấy lâu nên bản thân nay đã “Tây nguyên hóa”. Cũng chính sự đơn sơ và gần gũi đó đã cuốn người đối diện vào câu chuyện của cha.

Năm 2005, cha chịu chức và nhận bài sai về làm phó xứ Quảng Nhiêu. Tại đây, không quản đường sá lầy lội, đất đỏ bụi mờ nơi miền núi rừng Tây nguyên, đều đặn hằng tuần, cha lặn lội gần 15 cây số vào giáo họ Ea Tul dâng lễ và sống cùng bà con. Cũng từ ngày có cha kiêm nhiệm, giáo họ một thêm lớn mạnh nên đến năm 2010, cộng đoàn với trên 3.000 tín hữu hầu hết là người Ê Đê được nâng lên thành giáo xứ. Cha Dục được bổ nhiệm làm chánh xứ tiên khởi. Tuy nhiên, bên cạnh những cảm xúc lâng lâng khi một giáo xứ mới được hình thành, cha còn phải đối diện với một thực tế chồng chất khó khăn. Ea Tul vẫn được các cha trong giáo phận thường xuyên nhắc đến vì là xứ ba không : không nhà thờ, không nhà xứ, không đất đai. Ngày trước, mỗi lần đến dâng lễ, cha Dục đều phải mượn tạm khu đất trống của giáo dân để cử hành. Giáo xứ mới nhìn về tương lai là bao nỗi lo…

Để có nơi tá túc, cha nương nhờ trong nhà của một giáo dân có tên Y’hăt. Nơi dâng lễ được dựng lên bằng chòi lá sơ sài với diện tích vỏn vẹn 5mx15m. Ngôi nhà nguyện bé tẹo cũng là nơi sinh hoạt của các hội đoàn. Còn thiếu nhi học giáo lý phải kiếm chỗ có bóng mát để ngồi. Gặp lúc trời mưa phải tập trung về nhà nguyện, có lớp phải tạm nghỉ vì không đủ chỗ. Do vậy, Ea Tul kết thúc năm học giáo lý luôn muộn hơn so với dự kiến.

Thánh lễ tại giáo xứ Ea Tul

Biết được ước mơ cháy bỏng của bà con về một nơi thờ phượng và sinh hoạt xứng hợp, nhưng hầu hết giáo dân trong xứ cái ăn còn chưa kiếm đủ thì lấy đâu ra để tích cóp dành dụm và đóng góp, cha chạy đôn chạy đáo tìm kiếm sự hỗ trợ từ bên ngoài. Nhờ vậy, năm 2013, giáo xứ mua được mảnh đất rộng chừng 3 sào, cách nhà nguyện cũ hơn cây số. Tại đây, hiện giờ mới chỉ có nhà xứ và ngôi nhà nguyện nhỏ.

Để xứ đạo ngày càng được củng cố và thăng tiến, cha ra sức thành lập và phát triển các hội đoàn. Ưu tư lớn nhất của vị mục tử là củng cố đức tin cho mọi người, nhất là giới trẻ. Vậy là bên cạnh lo kinh nguyện, lễ lạy, hằng ngày cha soạn giáo án, đứng bục giảng để đào tạo giáo lý viên. Đến nay đội ngũ giảng viên giáo lý đã lớn mạnh, đủ sức gánh vác trách nhiệm giảng dạy Lời Chúa cho thế hệ trẻ. Riêng với những lớp giáo lý dành cho người lớn, hiện cha vẫn tự mình đứng lớp.

Và phục vụ

Dù công cuộc xây dựng giáo xứ mới chỉ ở bước khởi đầu, mọi cơ sở còn thiếu thốn tư bề, nhưng không vì thế mà cha quên việc san sẻ gánh nặng cuộc sống với người dân. Bác ái trong xứ, dù mới dừng lại bằng việc giúp đỡ vài ba bộ đồ cũ, tấm chăn bông đắp ấm khi mùa đông về, đôi khi là chục tập vở, bút viết làm phần thưởng khích lệ vào cuối năm dành cho học sinh…, nhưng đã làm cho nhiều người cảm thấy ấm lòng. “Với chúng tôi như vậy đã là quá tốt và luôn thầm cám ơn cha vì biết rằng, đó là tất cả những gì mà ngài có được”, H’rôl, giáo dân trong xứ nói.

Giáo xứ Ea Tul nằm tại xã Ea Tul, huyện Cư M’Gar, tỉnh Đắk Lắk. Vào khoảng năm 1956, cha Ruger Bianchetti (cha cố Bạch) đặt chân đến địa bàn nơi đây truyền giáo. Năm 1972, 12 người đầu tiên lãnh nhận bí tích Rửa Tội. Sau năm 1975, việc sống đạo rất khó khăn, giáo dân phải đi bộ 36km đến Trung tâm Mục vụ Sắc tộc để tham dự thánh lễ. Năm 1986, giáo họ Ea Tul được thành lập và là giáo họ lớn nhất thuộc giáo xứ Quảng Nhiêu.

Cùng với việc sớt chia vật chất, cha còn đỡ nâng họ về mặt tinh thần. Ngoài cách lý giải để mọi người hiểu và bỏ đi những hủ tục mỗi khi ma chay cưới hỏi, cha còn vận dụng linh động các sinh hoạt mục vụ nhằm bảo tồn nét văn hóa của bà con. Thánh lễ thường được cử hành bằng tiếng Ê Đê. Ca đoàn được khuyến khích sử dụng những bài hát bằng tiếng bản địa. Nghi thức dâng hoa tháng Đức Mẹ đậm sắc thái dân tộc vốn đã được giáo xứ hình thành từ trước. Bản thân cha không ngừng học hỏi thành thạo tiếng Ê Đê để dễ dàng hơn khi giao tiếp.

Các em ngồi học giáo lý dưới những tán cây trong khuôn viên nhà xứ

Trong đời sống, người dân tộc vẫn còn tồn tại nhiều nét cổ hủ nên cha thường xuyên chỉ dạy, khuyên bảo qua các buổi học giáo lý, trong thánh lễ hay những lần gặp mặt chuyện trò. Cha ví dụ: “Đám tang người Ê Đê thường để khá lâu, dân làng nghỉ hết việc để hội lại lo lắng, ăn uống rồi ra mộ than khóc. Về mặt gắn kết xã hội là rất đáng trân trọng. Nhưng kéo dài quá sẽ nảy sinh nhiều hệ lụy, nhất là công ăn việc làm bị đình trệ. Do đó mình phải hướng dẫn họ chừng mực…”.

Thêm một vấn đề khiến cha bận tâm là người Ê Đê vốn theo chế độ mẫu hệ. Truyền thống này tồn tại nhiều bất cập. Tỷ như khi cưới vợ, nhà gái thường đòi quà cưới khá lớn nên làm khó cho nhà trai, có khi quà cưới phải nhiều chục triệu đồng và mấy chỉ vàng. Đến khi chung sống, chẳng may vợ mất, người chồng lại phải lủi thủi trở về nhà nội một mình, còn con cái ở lại sống bên ngoại... Trẻ con vì thế sẽ lớn lên mà không có bố mẹ bên cạnh dìu dắt. Tùy vào từng thời điểm thích hợp, cha lại ân cần cắt nghĩa để giúp họ nhận ra điều gì nên bỏ, điều gì nên phát huy trong truyền thống xưa nay. “Hủ tục thường đã ăn sâu qua nhiều thế hệ, không dễ thay đổi một sớm một chiều. Nhưng tôi cứ cố gắng rồi dần dà bà con sẽ hiểu được”, cha tâm niệm. Tựa như mưa dầm thấm đất, những lần tỉ tê, nhắn nhủ của cha mà nhiều người, nhiều gia đình trong xứ dần suy nghĩ thông thoáng hơn. Ông  Y’Đơn tâm sự: “Nhờ cha, nhiều người ở buôn giờ đã sống văn minh hơn”.

Nấu bánh chưng mang tết đến với bà con

Giáo xứ Ea Tul đã trải qua chặng đường 6 năm khởi đầu với sự dẫn dắt của một vị mục tử hết lòng yêu thương đoàn chiên và luôn cố gắng phục vụ để đời sống của bà con dân tộc ngày càng thêm ổn định và văn minh.

ĐÌNH QUÝ

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm