Thứ Bảy, 19 Tháng Mười Hai, 2015 13:26

Đức Giêsu vào đời

Sau Công đồng Vaticanô II bế mạc, một niềm tin và hy vọng bộc phát mạnh mẽ. Từ đó, một số người nghĩ rằng phải lên đường, phải nhập thế, phải vào đời... Do đó mà cái từ “vào đời” trở thành quen thuộc, tuy nhiên khá lúng túng do không được chuẩn bị để thích nghi với những thay đổi sâu rộng.

Thái độ “vào đời” được quan niệm rất khác nhau và thậm chí đối lập nhau. Chính khi thử nghiệm, áp dụng rất khó khăn mà đời sống tu trì tiếp tục giảm sút, đặc biệt là thiếu ơn gọi trên khắp thế giới suốt nhiều năm sau công đồng. Cuộc sống đức tin của các tín hữu cũng bị ảnh hưởng. Khuynh hướng bỏ nhà thờ thậm chí bỏ Giáo hội lan rộng. Công cuộc rao giảng Tin Mừng lẫn đời sống luân lý giảm sút. Từ đó các vị hữu trách trong Giáo hội, dòng tu đã nhìn lại và điều chỉnh cho phù hợp, nhờ đó đã đem lại một số thành tựu trong việc thực hiện Công đồng Vaticanô II.

Thật ra, nếu “vào đời”  như Thiên Chúa nhập thể thì đó lại là một tình yêu vào đời cứu độ mà Thánh Luca tường thuật trong chương 2. Sự “vào đời của Thiên Chúa” qua hình ảnh hài nhi Giêsu là cả một niềm vui, niềm tri ân và niềm hy vọng Thiên Chúa dành cho nhân loại, trước nhất cho những người chăn chiên. Những người chăn chiên mục kích Đức Kitô, Thánh Giuse và Mẹ Maria cách ngạc nhiên kỳ lạ và là những người đầu tiên loan báo sự “vào đời” của Thiên Chúa.

Đức Kitô vào đời là ánh sáng đến trong u tối. “Hôm nay muôn dân đang lần bước giữa u tối đã được thấy ánh sáng” (Is. 9,2), Gioan đã làm chứng cho ánh sáng và ánh sáng ấy đã xuất hiện.

Thánh Augustinô nói: “Bạn sẽ phải chết muôn đời, nếu Đức Kitô không sinh vào đời bằng tiếng khóc”. Ngài vào đời trong hình ảnh con trẻ sơ sinh mà Mẹ Ngài đã phải cưu mang, sinh hạ và cho bú mớm. Ngài có một bà mẹ thật sự nơi một tổ ấm Nazareth, có một nghề để sống nơi đây. Ngài có một gia phả rõ rệt từ dòng tộc Đavít và là công dân của một quê hương, đất nước. Ngài vào đời hoàn toàn theo thân phận con người chỉ trừ tội lỗi (Thánh Phaolô). Ngài vào đời trong khiêm hạ, vâng phục một hoàng đế Augustô kiêu hãnh. Ngài nhập cuộc với tầng lớp nghèo nàn bé nhỏ nơi đồng quê Belem, nơi hang đá bò lừa để sinh hạ, giúp họ nhận biết Ngài là Đấng cứu độ trước nhất. Ngài đã nhập cuộc gần gũi với cả biệt phái, thu thuế, đĩ điếm để giải thoát họ và biến họ thành môn đệ của Ngài. Sau ba năm rong ruổi nơi miền Palestine, cuối cùng Ngài nhận bản án tử hình nhục nhã, đau khổ.

“Ngài đã nhập thể và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14). Ngài vào đời như mục tử đi tìm chiên lạc. Ngài vào đời như Chiên Thiên Chúa, gánh tội trần gian...

Nhưng do vậy, Ngài thể hiện sứ mệnh cứu độ trần gian. Vai trò Đấng Cứu Độ là ánh sáng muôn dân được thể hiện tràn đầy bởi tình yêu Thiên Chúa. Vì thế, Ngài đã bẻ gẫy cái ách đè lên đầu lên cổ, bẻ gẫy cái roi của kẻ hà hiếp mà Isaia loan báo. Ngài gánh vác quyền bính, để thiết lập hòa bình, đập tan bóng tối sự chết.

Tất cả đều khởi sự từ Tình Yêu Thiên Chúa Giáng Sinh Vào Đời.

Ngày Chúa giáng sinh, các thiên sứ đã trực tiếp loan báo tin vui cho các mục đồng. Các mục đồng khấp khởi ra về và chúc tụng Thiên Chúa... Không gì quý bằng chúng ta sẽ tiếp nối chúc tụng tôn vinh và loan báo tin vui này cho mọi người, để tình yêu giáng sinh cứu độ triển nở suốt cuộc đời chúng ta, triển nở khắp mọi dân nước. 

Lm. Antôn M.C. Nguyễn Ngọc Lâm, CMC,

Chánh xứ Phú Lý - GP Xuân Lộc.

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm