Thứ Sáu, 13 Tháng Tám, 2021 07:58

GÓC SUY GẪM – MÙA DỊCH COVID-19 (Mt 19,3-12; thứ Sáu, tuần XIX Thường niên)

 

1. Chuyện chúng mình:

 

KẾT THÚC TRANH CHẤP LY HÔN, BÀ LÊ HOÀNG DIỆP THẢO ĐƯỢC CHIA HƠN 3.245 TỈ ĐỒNG

Tổng tài sản giữa bà Lê Hoàng Diệp Thảo và ông Đặng Lê Nguyên Vũ giải quyết chia trị giá hơn 7.900 tỉ đồng. Bà Thảo được chia hơn 3.245 tỉ đồng, ông Vũ được chia tổng số tài sản trị giá hơn 4.687 tỉ đồng.

Theo nguồn tin của PV Thanh Niên, Hội đồng thẩm phán (HĐTP) TAND tối cao đã xét xử giám đốc thẩm và phát hành quyết định giám đốc thẩm vụ án “tranh chấp về hôn nhân và gia đình” giữa nguyên đơn là bà Lê Hoàng Diệp Thảo (48 tuổi, Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV TNI) và bị đơn – ông Đặng Lê Nguyên Vũ (50 tuổi, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty CP Tập đoàn Trung Nguyên).

Theo đó, HĐTP TAND tối cao chấp nhận một phần quyết định kháng nghị giám đốc thẩm của Viện trưởng Viện KSND tối cao đối với vụ án trên, về phần quan hệ hôn nhân; về cách tuyên trong phần giao bất động sản; về 6 tài khoản ngân hàng đang đứng tên ông Lê Hoàng Văn.

Ông Đặng Lê Nguyên Vũ rút yêu cầu đòi chia gần 213 tỉ đồng

Đồng thời, HĐTP TAND tối cao chấp nhận đơn xin rút một phần yêu cầu phản tố của ông Đặng Lê Nguyên Vũ (tại thời điểm xét xử sơ thẩm – PV) về chia khoản tiền ngoại tệ là hơn 1,4 triệu GBP, và 7,35 triệu USD (tổng cộng tương đương gần 213 tỉ đồng, tại thời điểm xét xử) trong 6 tài khoản đứng tên ông Lê Hoàng Văn.

Từ đó, HĐTP TAND tối cao sửa bản án phúc thẩm liên quan, theo hướng: cho bà Lê Hoàng Diệp Thảo và ông Đặng Lê Nguyên Vũ ly hôn.

Về chia tài sản chung: tổng tài sản của bà Thảo với ông Vũ giải quyết chia giá trị hơn 7.900 tỉ đồng (làm tròn). Trong đó, bà Lê Hoàng Diệp Thảo được chia tổng số tài sản trị giá hơn 3.245 tỉ đồng, ông Đặng Lê Nguyên Vũ được chia tổng số tài sản trị giá hơn 4.687 tỉ đồng.

Cụ thể: Về bất động sản (BĐS), HĐTP TAND tuyên giao cho bà Lê Hoàng Diệp Thảo 7 bất động sản, tổng trị giá gần 376 tỉ đồng; giao ông Đặng Lê Nguyên Vũ 6 bất động sản, tổng trị giá được chia là hơn 350 tỉ đồng. Ông Vũ và bà Thảo có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục chuyển đổi giấy chứng nhận.

Giao bà Lê Hoàng Diệp Thảo được sở hữu toàn bộ tiền đứng tên bà Thảo gửi tại các ngân hàng, với số tiền hơn 1.551 tỉ đồng.

Giao ông Đặng Lê Nguyên Vũ được sở hữu toàn bộ số cổ phần đang ghi tên ông Vũ và bà Lê Hoàng Diệp Thảo tại các công ty trong Tập đoàn Trung Nguyên, tương đương số tiền trị giá khoảng 5.655 tỉ đồng.

Từ đó, HĐTP TAND tối cao tuyên ông Vũ thanh toán cho bà Thảo số tiền chênh lệch về giá trị tài sản thực nhận so với giá trị tài sản được chia là hơn 1.318 tỉ đồng.

Các quyết định khác của bản án phúc thẩm vẫn giữ nguyên.

 

Phan Thương

 (Nguồn: https://thanhnien.vn/thoi-su/ket-thuc-tranh-chap-ly-hon-ba-le-hoang-diep-thao-duoc-chia-hon-3245-ti-dong-1379673.htmll)

 

 

2. Những con số biết nói

 

Stt

Quốc gia

Được chữa khỏi

Tử vong

Tổng số

1

Mông Cổ

171.011

869

178.436

2

Mozambique

115.931

1.671

136.566

3

Campuchia

78.431

1.634

83.839

4

Việt Nam

89.145

4.813

246.568

 

 

 

 

 

Thế giới

184.966.957

4.346.438

206.134.028

Cập nhật lúc 6g20 ngày 13.8.2021

 

 

3. Khuôn vàng thước ngọc (Mt 19,3-12; thứ Sáu, tuần XIX Thường niên) 

“Thưa Thầy, có được phép rẫy vợ mình vì bất cứ lý do nào không?” Câu hỏi này được đưa ra vì hai trường phái Pharisêu lúc bấy giờ tranh cãi nhau kịch liệt: nhóm ông Hillel, dựa theo Đnl 24,1, cho phép rẫy vợ vì bất cứ lý do gì; trong khi đó, phe ông Shammai chỉ đồng ý cho ly dị khi có ngoại tình. Một lần nữa, nhân cơ hội này, Đức Giêsu khẳng định lại luật nguyên thủy của hôn nhân. Một lập trường giáo lý rất cách mạng, trái ngược hẳn với luật lệ và phong tục thời đại.

Sự kiện sống độc thân có thể có những lý do khác nhau, cho nên giá trị cũng khác nhau. Bằng một hình ảnh cụ thể, Đức Giêsu đưa ra những trường hợp khác nhau đó, để cuối cùng đề cập đến việc tự nguyện sống độc thân trọn vẹn, suốt đời như một bậc sống đặc biệt để phục vụ Nước Trời. Người còn cho biết rằng: lý tưởng độc thân này được đưa ra như lời mời gọi dành cho một số người, ai được Thiên Chúa cho hiểu mới hiểu; cho nên đây là chuyện hoàn toàn tự do tự nguyện không phải ai cũng hiểu được và ai hiểu được thì hiểu.

 

Lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy, sự thật không bao giờ đến từ con người, mà đến từ Thiên Chúa. Chỉ mình Thiên Chúa mới cho biết đâu là sự thật và đâu là sự giả trá. Chính vì sự thật đến từ Thiên Chúa, nên muốn biết đâu là chuẩn mực để đánh giá một hành vi luân lý thì phải căn cứ vào ý muốn của Thiên Chúa. Nói cách khác, muốn biết một hành vi là tốt hay xấu, phải căn cứ vào ý muốn của Thiên Chúa chứ không thể do đánh giá chủ quan của con người. Một hành vi được coi là tốt khi nó phù hợp với ý muốn của Thiên Chúa. Ngược lại, một hành vi phải bị coi là xấu khi nó đi ngược lại những điều đã được Thiên Chúa quy định.

Thế nhưng, bài Tin Mừng chúng ta nghe hôm nay đã cho thấy, những người Pharisêu, mặc dù họ được coi là những người đạo đức, hơn nữa còn là những người lãnh đạo, nhưng chính họ lại không có được nhận thức căn bản trên đây. Bởi đó, khi thấy những trường hợp được ly dị, họ cho đó là điều được phép, nên khi họ đến hỏi Đức Giêsu “Thưa Thầy, có được phép rẫy vợ mình vì bất cứ lý do nào không?”. Thực ra, họ nêu vấn đề nhưng không phải để biết sự thật mà là để gài bẫy Đức Giêsu. Tuy nhiên, Đức Giêsu đã cho thấy, sở dĩ Môsê buộc lòng phải cho phép ly dị là vì họ lòng chai dạ đá, chứ ngay từ ban đầu, Thiên Chúa đã quy định: “Người đàn ông sẽ lìa bỏ cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt” (St 2,24). Đây là một suy nghĩ của tác giả về bản năng muôn thuở của nam nữ đối với nhau và quy luật thông thường của những người sống trong hôn nhân. Đó là một sự hợp nhất rất chặt chẽ được thể hiện nơi thân xác cũng như giữa hai tâm hồn trong đời sống lứa đôi. Điều này cũng trở thành nền tảng cho giáo huấn Kitô giáo về hôn nhân đó là, một vợ một chồng và bất khả phân ly. Ngoài ra, nó còn là nền tảng của sự hướng chiều về nhau cũng như tình yêu dành cho nhau đã nằm ngay trong cơ cấu của cả người nam lẫn người nữ do Thiên Chúa tạo dựng. Như thế, căn cứ vào ý muốn từ ban đầu của Thiên Chúa và căn cứ vào lời khẳng định của Đức Giêsu: “Sự gì Thiên chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”, chúng ta hiểu rằng, Thiên Chúa không bao giờ cho phép ly dị.

Mặc dù vậy, con người ngày nay, kể cả người có đạo, đã không còn coi trọng phán quyết của Thiên Chúa nữa. Họ coi thường luật Chúa. Họ sẵn sàng đưa nhau ra tòa đời để xin ly dị. Và họ cảm thấy an tâm khi nhận được quyết định cho phép ly hôn. Nhưng, chúng ta đừng quên rằng, những quyết định cho phép ly dị của chính quyền không có giá trị đối với Giáo hội. Thiên Chúa không cho phép ly dị và Giáo hội cũng phải tuyệt đối trung thành với ý định của Thiên Chúa là vì hạnh phúc của đời sống hôn nhân. Không thể có hạnh phúc trong hôn nhân, nếu không có sự thủy chung trong đời sống vợ chồng.

Thánh Phaolô trong thư gởi tín hữu Côlôsê đã khuyên dạy chúng ta: “Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái: đó là mối dây liên kết tuyệt hảo” (3,14). Nhưng tiếc rằng, rất nhiều người ngày hôm nay lại xây dựng hạnh phúc dựa trên tiền bạc, danh vọng, nhan sắc,… bởi đó, không ít gia đình đã đi tới chỗ đổ vỡ. Hoặc nếu họ có xây dựng hạnh phúc gia đình trên tình yêu thì đó cũng chỉ là thứ tình yêu vị kỷ. Chỉ có tình yêu đích thực được thể hiện bằng sự thủy chung, hy sinh và biết sống cho người khác: vợ chồng biết sống cho nhau, cha mẹ biết sống cho con cái, thì tình yêu ấy mới mang lại hạnh phúc vững bền cho các gia đình.

Lạy Chúa, Ngài đã dựng nên nhân loại này có nam có nữ; đồng thời thiết định cho họ một giao ước hôn nhân vững bền, để giữa họ không còn là hai nhưng là trở nên một xương một thịt trong tình yêu phu phụ. Xin cho tất cả những người đang sống đời hôn nhân biết trân trọng và gìn giữ hôn ước mà họ đã cam kết trước mặt Chúa cùng Hội Thánh. Xin cho họ luôn trung thành với điều đã đoan hứa và suốt đời vẹn nghĩa thủy chung.

 

4. Lời bàn

- Luật hôn nhân và trinh tiết của người Do Thái đặt ra những tiêu chuẩn rất cao. Người ta ghét chuyện ly dị. Bởi vì Chúa phán: “Ta ghét việc rẫy vợ” (Ml 2,16). Người ta nói rằng, đến bàn thờ cũng phải chảy nước mắt khi thấy một người đàn ông ly dị vợ mình đã cưới lúc còn trẻ. Về điều này, chúng ta dường như bắt gặp một điểm giao thoa với tinh thần của Nho giáo qua hình ảnh “Tào khang chi thê bất khả hạ đường”, nghĩa là nếu một mai ta trở nên giàu sang phú quý thì đừng hắt hủi người vợ mà ta đã cưới nàng thuở hàn vi. Về mặt lý thuyết, những điều được nói đến ở đây không chỉ là phù hợp với Thánh ý của Thiên Chúa, nhưng còn là mục tiêu của tất cả những ai sống đời hôn nhân gia đình. Chung thủy với nhau cho đến răng long đầu bạc chính là thứ trắc nghiệm chân xác nhất về thứ tình yêu mà hai người trao cho nhau; bởi vì, “Tình yêu chúng ta có trong tuổi trẻ chỉ là hời hợt so với tình yêu mà một người đàn ông già nua dành cho người vợ cao niên của mình” (Will Durant).

- Tuy nhiên lý tưởng và thực tế không đi đôi với nhau. Có hai yếu tố nguy hiểm và tai hại liên quan tới việc ly dị trong xã hội Do Thái. Thứ nhất, theo luật Do Thái, đàn bà là một thứ đồ vật. Nàng là vật sở hữu của cha hoặc của chồng; bởi vậy, theo luật pháp nàng không có quyền gì cả. Hầu hết những cuộc hôn nhân trong xã hội Do Thái đều do cha mẹ sắp đặt hay những người mai mối lo liệu. Một cô gái có thể được đính hôn lúc còn nhỏ và thường đính hôn với một người mà cô chưa hề gặp mặt. Có một điều khoản phòng ngừa, đó là khi đến năm 12 tuổi, cô có thể khước từ người chồng mà cha mẹ cô đã chọn cho. Nhưng trong vấn đề ly dị, luật chung vẫn cho phép việc khởi xướng ly dị thuộc về người chồng. Luật quy định rằng: “Đàn bà có thể bị ly dị dù nàng có đồng ý hay không; nhưng người đàn ông chỉ có thể bị ly dị nếu anh ta đồng ý”. Người đàn bà không bao giờ được khởi xướng điều này; bởi đó, nàng không thể ly dị nhưng chỉ có thể là bị ly dị. Chúng ta đang sống trong một xã hội hiện đại, nơi mà nam nữ bình quyền; đáng tiếc rằng, sự đổ vỡ trong hôn nhân ngày một gia tăng. Lời cầu chúc “Trăm năm tình viên mãn, bạc đầu nghĩa phu thê” ngày càng xa tầm tay đối với rất nhiều người trong thời buổi hiện tại. Khế ước hôn nhân ngắn ngủi tới mức mà người ta có thể tính ngày, thậm chí là tính được giờ kể từ lúc nó bắt đầu cho đến khi kết thúc. Như vậy, con cháu họ lấy đâu ra cơ hội để mừng ngân khánh, kim khánh hay ngọc khánh hôn phối của cha mẹ, ông bà.

- Nếu một người đàn ông ly dị vợ không phải vì tội ngoại tình thì phải hoàn lại cho nàng của hồi môn, điều này ngăn trở sự ly dị vô trách nhiệm. Tòa án có thể gây áp lực trên người đàn ông để anh ta ly dị vợ trong một vài trường hợp: anh ta không chịu ân ái với vợ, anh ta bị bất lực, hoặc không đủ sức che chở nàng. Người vợ cũng có thể nhờ luật pháp can thiệp để buộc chồng ly dị nếu anh ta mắc phải một chứng bệnh kinh tởm như bệnh phong cùi. Nhưng nói chung, luật không cho người đàn bà có quyền pháp lý nào và quyền ly dị cũng hoàn toàn nằm trong tay người đàn ông.

- Tiếp đến, thủ tục ly dị dễ dàng là một điều tai hại. Thủ tục ly dị căn cứ vào một câu của luật Môsê mà những người đến hỏi Chúa đã đề cập tới: “Nếu một người đàn ông đã lấy vợ và đã ăn ở với nàng rồi, mà sau đó nàng không đẹp lòng người ấy nữa, vì người ấy thấy nơi nàng có điều gì chướng, thì sẽ viết cho nàng một chứng thư ly dị, trao tận tay và đuổi ra khỏi nhà” (Đnl 24,1). Tờ giấy rất đơn giản, chỉ có một câu nói rằng chồng đã bỏ vợ. Thủ tục ly dị dễ dàng như thế thật là tai hại. Người nào muốn ly dị vợ vì bất cứ lý do gì, thì người ấy phải viết giấy bảo đảm rằng anh ta sẽ không bao giờ lấy nàng làm vợ nữa. Như đã nói, chỉ có một biện pháp bảo vệ duy nhất là người chồng phải trả lại của hồi môn cho vợ, nếu nàng không phải là kẻ hư hỏng.

- Rõ ràng, một trong những vấn đề lớn về ly dị của người Do Thái nằm trong luật của Môsê. Luật đó nói rằng, người đàn ông có thể ly dị với vợ “nếu nàng chẳng làm vui lòng hoặc khi thấy nơi nàng một điều gì đó không thanh sạch”. Vậy thế nào là không thanh sạch? Vấn đề này đã gây chia rẽ trong các Rabbi của Do Thái giáo và cũng chính vấn nạn này mà những kẻ đến hỏi Đức Giêsu muốn lôi kéo Ngài vào một cuộc tranh luận. Trường phái Shammai cho rằng, không thanh sạch, tức là nói đến ngoại tình và chỉ có điều đó chứ không thể vì một lý do nào khác khiến người đàn ông được ly dị vợ. Trái lại, trường phái Hillel giải thích vấn đề không thanh sạch này một cách rộng rãi hơn. Theo họ, nó có nghĩa là người đàn ông có thể ly dị vợ nếu nàng làm hỏng bữa ăn của anh; nếu nàng ra ngoài không cột tóc; hay nói chuyện với người đàn ông khác ở ngoài đường; nếu nàng hỗn xược với cha mẹ chồng trước mặt anh, hoặc nếu nàng đôi co to tiếng khiến người bên cạnh nhà nghe được. Cũng có người còn đi xa hơn trong việc giải thích điều này khi cho rằng, một người đàn ông sẽ ly dị vợ mình khi họ thích một người đàn bà khác và cho rằng người ấy đẹp hơn. Như thế, chúng ta thật khó hình dung hết những tình huống mà người đàn ông có thể trưng dẫn để lấy cớ mà ly dị vợ mình. Điều đó cũng có nghĩa là, người ta sẽ không bao giờ lường hết được những hệ lụy đằng sau những đổ vỡ của hôn nhân.

- Hiển nhiên, trường phái Hillel với những lời giải thích của họ dễ được ủng hộ hơn; tuy vậy, nó cũng để lại những hậu quả tai hại hơn. Sự ràng buộc trong hôn nhân bị coi thường và việc ly dị vì những lý do nhỏ mọn nhất lại trở nên phổ biến một cách đau lòng. Điều rõ ràng là theo luật của các Rabbi Do Thái, có hai trường hợp bắt buộc phải ly dị: một là do người đàn bà ngoại tình; hai là vì người đàn bà son sẻ, vì mục đích của hôn nhân là truyền sinh. Nếu sau mười lăm năm vợ chồng không có con thì bắt buộc phải ly dị. Trong trường hợp này, người đàn bà có thể có chồng khác nhưng luật đó vẫn có giá trị trong cuộc hôn nhân thứ hai.

- Chúng ta phải nêu thêm hai nguyên tắc lý thú khác trong việc ly dị của người Do Thái. Thứ nhất, sự mất tích không bao giờ được coi là lý do để ly dị. Nếu mất tích thì phải chứng minh là người ấy đã chết. Ở đây, luật Do Thái được nới lỏng hơn, không đòi hai người làm chứng, mà chỉ cần một người làm chứng cũng đủ để xác minh cái chết của người phối ngẫu, khi họ đột nhiên mất tích không thấy trở về. Thứ hai, điều khá lạ là sự mất trí không được coi là lý do chính đáng để ly dị. Nếu người vợ bị mất trí, người chồng không thể ly dị nàng, vì nếu nàng bị ly dị thì sẽ không có ai bảo bọc nàng trong cảnh tuyệt vọng. Luật này chứa đựng một chút tinh thần nhân đạo. Nếu người chồng bị mất trí thì việc ly dị cũng không thể được thực hiện trong trường hợp đó, anh ta không thể viết được tờ ly dị, và nếu anh ta không khởi xướng một tờ ly dị như thế thì vấn đề ly dị cũng không thể được đặt ra.

- Khi các môn đệ nghe những ý tưởng về hôn nhân mà Đức Giêsu gợi ra thì dường như họ rất lo sợ. Nhiều câu nói của các Rabbi có lẽ đã hiện lên trong tâm trí của các ông. Các Rabbi đã nói nhiều về những cuộc hôn nhân không hạnh phúc: “Những ai có vợ ác, xấu sẽ được ở trong số những người chẳng bao giờ phải nhìn thấy hỏa ngục”, những người ấy được cứu khỏi hỏa ngục vì đã chịu hình phạt bởi lấy phải người vợ xấu và ác ý lúc ở trần gian rồi. Hay “Những người bị vợ cai trị thì sống nhưng không phải là sống!”,Có một người vợ xấu tính thì cũng giống như mắc bệnh phong cùi”, hoặc là “Nếu một người có vợ không tốt thì việc ly dị nàng là một bổn phận tôn giáo”. Đối với những người lớn lên giữa những câu nói như vậy thì mệnh lệnh của Đức Giêsu hầu như là một điều làm cho họ khiếp sợ. Phản ứng của các môn đệ là như thế. Nếu hôn nhân là một sự ràng buộc tối hậu và việc ly dị bị cấm thì thà đừng lấy vợ; vì theo họ nghĩ, không còn con đường nào khác để thoát cảnh sầu khổ mà con người ta luôn phải đối diện.

- Nhà văn Hermann Hesse từng nói: “Mái ấm không chỉ là mái nhà trên đầu chúng ta. Mái ấm là nơi ta cảm thấy được yêu thương, và nơi ta yêu thương người khác. Đó là nơi ta thuộc về. Tình yêu thương là điều làm nên mái ấm, không phải là đồ đạc bên trong ngôi nhà hay con số trên cửa. Mái ấm là những người chờ đợi ta sau bậc thềm, những người sẽ ôm lấy ta sau một ngày, hôn ta chúc ngủ ngon và chào buổi sớm mỗi ngày trong suốt cuộc đời ta”. Như vậy, mái ấm gia đình chính là nơi ta được sinh ra và lớn lên nhờ dòng sữa của mẹ cùng công lao khó nhọc của cha. Nơi đó, ta được chung chia phận người, được chào đón ánh nắng ban mai và thủ đắc những điều giúp ta nên người lương thiện. Thật hạnh phúc biết bao cho những ai nhận được công dưỡng dục sinh thành từ cả cha lẫn mẹ. Chúng ta không có quyền chọn lựa các bậc sinh thành khi dập dìu giữa chốn nhân gian, càng khi thể đòi hỏi phẩm hạnh của những người đã hoài thai và sinh ra mình. Trớ trêu thay, cuộc đời vốn đẩy đưa để rồi chúng ta phải đón nhận những điều mình chẳng muốn. Là con cái, chẳng ai muốn mẹ cha mình đưa nhau ra tòa xin ly hôn và giải quyết tranh chấp trong một vụ án có giá trị hàng ngàn tỉ bạc. Là con cái, mấy ai chẳng muốn cha mẹ sống đời ở kiếp với mình; thế nhưng, sau các cuộc ly hôn, một khoảng trống chẳng thể lấp đầy sau lưng những đứa con được mở toang ra; bởi vì khi đó, có cha thì mất mẹ, hoặc giả là điều ngược lại. Là con cái, ai lại không  cảm thấy muộn phiền khi cha mẹ vẫn còn sống sờ sờ ra đó; nhưng bây giờ họ chẳng còn thuộc về nhau, họ quên câu hẹn ước, họ xé bỏ lời thề để rồi trao cho nhau chứng thư kèm lời xác nhận: từ nay mình được thong dong. Là con cái, biết tìm đâu niềm vui cho nguôi ngoai?


 

  Viết Cường, O.P.

 

 

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm