Thứ Sáu, 27 Tháng Tám, 2021 08:28

GÓC SUY GẪM – MÙA DỊCH COVID 19 (Mt 25,1-13; thứ Sáu, tuần XXI Thường niên)

 

1. CHUYỆN CHÚNG MÌNH:

 

"Chỉ vì tình yêu Đức Kitô thúc bách"

TGPSG-- “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34). Lời dạy đó của Chúa Giêsu vẫn luôn vang vọng trong con tim người Kitô hữu ở mọi nơi và qua mọi thời.

Hình ảnh các tình nguyện viên lên đường đến với tuyến đầu chống dịch đã để lại trong lòng chúng ta nhiều ấn tượng tốt đẹp về tấm lòng và nghĩa cử cao quý mà họ đã thể hiện. Họ có phúc hơn ai hết vì họ là những người đang lắng nghe và thực hành lời dạy của Chúa cách sống động qua sự dấn thân, hy sinh bản thân vì sự sống của nhiều người. Vậy, những thiện nguyện viên đó là ai?

Vâng, đó là các Linh mục, tu sĩ - những người con ưu tú của Giáo hội Công Giáo, đã được Thiên Chúa tuyển chọn giữa muôn người để trở nên muối men giữa lòng đời. Họ là những con người có tri thức, có nhân cách qua việc được tu luyện để trở thành những Linh mục, tu sĩ của Thiên Chúa và mọi người. Họ cũng có gia đình, bạn bè, có những người thân yêu, những ước mơ cao đẹp về một tương lai đầy triển vọng đang chờ họ phía trước. Và cũng như mọi người, họ khao khát được sống, được cảm thấy an toàn bên cạnh những người thân yêu. Thế mà giờ đây, họ sẵn sàng từ bỏ tất cả để lao mình vào cuộc chiến chống covid mà không hề sợ gian khó, hiểm nguy hay mất mạng. Vậy, điều gì đã thúc đẩy các linh mục, tu sĩ can đảm dấn thân vì sự sống của người khác như thế?

Câu trả lời chính là tình yêu Đức Kitô đã thúc bách họ. Tình yêu ấy khắc sâu trong trái tim họ đến nỗi họ không thể làm ngơ trước nỗi đau khổ của anh chị em đồng loại, làm ngơ trước lời mời gọi tha thiết của các mục tử để ra khỏi sự an toàn, đến với tuyến đầu chống dịch. Họ thực đúng là những con người “thánh thiện” như lời của Đức Thánh Cha Phanxicô đã viết trong Tông huấn Gaudete et exsultate: “Một người biết nhìn sự vật đúng như sự thật của chúng và biết cảm thông với những nỗi buồn đau, đó là người có thể chạm đến những chiều sâu của đời sống và tìm thấy hạnh phúc chân thực. Người ấy được ủi an, không phải bởi thế gian nhưng là bởi Chúa Giêsu. Những người như thế không ngại chia sẻ khổ đau của người khác; không trốn tránh các hoàn cảnh đau buồn. Họ khám phá ý nghĩa của đời sống qua việc đi đến giúp đỡ những ai đau khổ, cảm thông với nỗi khốn khó của người ta và đem lại sự xoa dịu. Họ cảm nhận rằng tha nhân là thịt bởi thịt mình, họ không sợ đến gần, ngay cả chạm đến những vết thương nơi người ấy. Họ chạnh lòng thương cảm người khác đến nỗi mọi khoảng cách đều không còn. Bằng cách đó họ sống giáo huấn của Thánh Phaolô: “Hãy khóc với người khóc” (Rm 12,15). Biết khóc than với tha nhân: đó là thánh thiện” (x. Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Tông huấn Gaudete et exsultate- số 76, Bản dịch của Lm. Lê Công Đức, PSS, Nxb Tôn giáo).

Đại dịch Covid-19 đã gây ra nhiều đau thương cho thế giới, nhưng qua đó chúng ta thấy tình Chúa, tình người vẫn đang được thể hiện thật cụ thể, rõ ràng qua tinh thần liên đới của rất nhiều anh chị em chúng ta trong đại gia đình nhân loại, đặc biệt qua sự dấn thân, hy sinh âm thầm của các tình nguyện viên Linh mục, tu sĩ, giáo dân Kitô giáo và nhiều người thuộc các tôn giáo, hội đoàn khác. Những nghĩa cử hy sinh phục vụ cao đẹp của các tình nguyện viên sẽ là dấu chỉ hữu hiệu để Tin Mừng của Chúa được chạm đến trái tim nhiều người, đặc biệt là những ai chưa tin vào Chúa.

Và nếu một ngày nào đó, chúng ta không còn thấy một trong các tình nguyện viên ấy trở về đoàn tụ với gia đình, với cộng đoàn vì đã hy sinh sự sống cho anh chị em mình thì thay vì ưu sầu, thương khóc, chúng ta hãy hân hoan đón mừng một vị tử vì đạo của thế kỷ 21, một vị thánh đã hy sinh âm thầm cho sự sống của bao người vì tình yêu Đức Kitô.

Oanh Sương Mai, Sjp

(Nguồn: https://tgpsaigon.net/bai-viet/chi-vi-tinh-yeu-duc-kito-thuc-bach-64051)

 

2. NHỮNG CON SỐ BIẾT NÓI

 

Stt

Quốc gia

Được chữa khỏi

Tử vong

Tổng số

1

Pháp

6.145.288

113.775

6.693.019

2

Guatemala

390.195

11.694

455.263

3

Kenya

216.77

4.635

232.869

4

Việt Nam

188.488

9.667

392.885

 

 

 

 

 

Thế giới

192.566.371

4.486.753

215.398.622

 

Cập nhật lúc 6g20 ngày 27.8.2021

 

 

3. KHUÔN VÀNG THƯỚC NGỌC (Mt 25,1-13; thứ Sáu, tuần XXI Thường niên – kính nhớ thánh nữ Mônica)

Hôm qua chúng ta đã được nghe dụ ngôn thứ nhất nói về người đầy tớ trung tín. Hôm nay, chúng ta tiếp tục được nghe một dụ ngôn khác liên quan tới đề tài cánh chung luận, trong đó mời gọi con người ta luôn phải biết tỉnh thức và sẵn sàng. Mười trinh nữ được nhắc đến ở đây, tượng trưng cho tất cả các tín hữu, nam cũng như nữ, giáo dân và tu sĩ. Người ta có thể là khôn, hay là khờ. Dụ ngôn nhấn mạnh chuyện chàng rể đến chậm, nên phải luôn sẵn sàng. Điều này dựa theo thói tục địa phương thời xưa: nhiều khi sự thương lượng giữa hai gia đình trai và gái còn kéo dài cho đến phút chót. Bình thường thì lúc mặt trời lặn, chú rể với đoàn phù rể kéo đến đón cô dâu. Nhưng nếu cuộc thương lượng chưa xong thì sự chờ đợi của nhà gái còn kéo dài, có khi tới khuya, hay nửa đêm không chừng. Trong dụ ngôn, các chi tiết đóng cửa lại cũng như câu đáp của chú rể đối với các cô tới chậm là không bình thường trong một đám cưới tự nhiên. Nhưng chính những chi tiết ấy làm nổi bật ý nghĩa thiêng liêng: người ta chỉ chết có một lần thôi; không có cơ hội để làm lại, nếu đã không sẵn sàng.

 

 

Qua bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu không chỉ dạy chúng ta phải tỉnh thức chờ đợi Chúa đến, mà Ngài còn dạy chúng ta biết phải tỉnh thức thế nào để gặp được Chúa khi Ngài đến. Thật vậy, bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe đã cho thấy, cả mười cô trinh nữ đều là những người tỉnh thức, đều là những người hăm hở đi đón chàng rể. Thế nhưng, chỉ có năm cô khôn ngoan mới được vào dự tiệc cưới, còn năm cô khờ dại thì không. Tại sao vậy?

Xin thưa, vì năm cô khôn ngoan không chỉ mang đèn mà còn đem theo dầu đầy bình. Còn năm cô khờ dại mang đèn mà không chuẩn bị thêm dầu. Có đèn mà không có dầu, thì đèn đó chỉ là đồ vô dụng, bởi vì, chức năng của đèn là để soi sáng. Một khi dầu cạn kiệt, đèn sẽ tắt ngúm và mọi thứ chung quanh chỉ còn lại bóng tối. Ngọn đèn đức tin của chúng ta đều có công năng như nhau, đó là phát ra ánh sáng. Chỉ có điều, điểm khác biệt đó chính là khoảng thời gian duy trì thứ ánh sáng ấy.

Cũng vậy, cầm đèn là tư thế của người tỉnh thức sẵn sàng chờ đón Chúa, còn dầu chính là đời sống đức tin của mỗi người chúng ta. Chỉ có đức tin sống động được thể hiện bằng những việc làm cụ thể mới là bảo đảm cho chúng ta gặp được Chúa khi Ngài đến. Ngược lại, người có đức tin mà không sống đức tin khác nào người khờ dại mang đèn không đem dầu theo. Bởi đó, thánh Giacôbê tông đồ mới nói: “Đức tin không có việc làm thì quả là đức tin chết” (Gc 2,17).

Tuy nhiên, để có được dầu đức tin đó, chúng ta phải chuẩn bị ngay từ bây giờ, đừng để nước đến chân mới nhảy. Như thế, chẳng thể nào kịp. Cả cuộc đời không lo chuẩn bị hành trang để bước vào đời sau, chờ tới khi gần đất xa trời mới nghĩ tới việc lo chuyện phần rỗi, liệu chúng ta có đủ thời gian không? Dĩ nhiên, chúng ta phó thác cho lòng nhân từ của Chúa, nhưng chúng ta đừng quên rằng, để quyết định số phận đời đời của một người, Thiên Chúa công bình không chỉ căn cứ vào giây phút cuối cùng mà Ngài còn căn cứ vào cả cuộc đời của chúng ta nữa.

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết nhìn vào gương của các cô trinh nữ khôn ngoan để luôn sẵn sàng và thức tỉnh mà chờ đón Chúa. Xin đừng để chúng con cứ mải mê với muôn sự thế gian mà quên đi việc chuẩn bị những thứ cần thiết giúp ngọn đèn đức tin của chúng con luôn cháy sáng. Xin cho mỗi người chúng con biết sống khôn ngoan bằng cách chuẩn bị cho mình hành trang ngay từ bây giờ bằng chính đời sống bác ái, tha thứ, yêu thương và phục vụ. Xin cho chúng con luôn biết mau mắn ra đón Chúa, dẫu cho Ngài tới lúc chập tối hay nửa đêm; lúc gà gáy hay khi trời vừa hửng nắng ban mai.

 

4. LỜI BÀN

- Nếu nhìn dụ ngôn này dưới nhãn quan của người Tây Phương, thì câu chuyện có vẻ bịa đặt, thiếu tự nhiên. Nhưng, sự thật đây là một câu chuyện có thể xảy ra bất cứ lúc nào ở Palestine, ngay cả trong thời điểm hiện nay. Trong vùng thôn quê Palestine, đám cưới là một cơ hội trọng đại trong đời. Cả làng đi đưa đôi vợ chồng về ngôi nhà mới của họ bằng con đường dài nhất để họ có thể nhận được những lời chúc lành vui vẻ của càng nhiều người càng tốt. Trong làng, mọi người từ sáu đến sáu mươi tuổi sẽ đi theo tiếng trống của đám cưới. Các Rabbi cho phép mọi người có thể gác lại việc nghiên cứu luật để chia sẻ niềm vui của một đám cưới như vậy.

- Điểm chính của câu chuyện này nằm trong phong tục của người Do Thái, rất khác với điều chúng ta vẫn biết. Khi đôi trai gái kết hôn ở Palestine, họ không đi xa trong tuần trăng mật. Họ ở nhà, mở cửa trong một tuần và được đối xử như hoàng tử và công chúa. Đó là tuần lễ vui nhất trong đời họ. Trong những ngày đó, họ tổ chức các buổi liên hoan và mời một số bạn bè đến tham dự. Các trinh nữ dại dột đã lỡ mất cơ hội không những chính buổi lễ cưới mà mất luôn cả tuần lễ vui vẻ sau đó vì họ không chuẩn bị sẵn sàng. 

- Một trong những điều vui nhất trong đám cưới trung lưu ở Palestine là làm sao bắt gặp đàng gái đang ngủ gục, vì vậy chàng rể thường đến rất bất ngờ, đôi khi vào lúc nửa đêm. Theo ý của công chúng thì chàng rể phải cho một người đi trước để la lên rằng: “Kìa, chàng rể đang đến”. Việc đó có thể xảy ra bất cứ lúc nào, nên phía nhà gái phải luôn luôn sẵn sàng để đi ra đường đón khi chàng rể đến. Ngoài ra, còn một số vấn đề quan trọng khác, đó là không ai được phép ở ngoài sau khi trời tối nếu không có đèn trong tay. Khi chàng rể đến và cửa đóng lại thì những người đến trễ sẽ không được vào. Đó là toàn thể quang cảnh của dụ ngôn mà Đức Giêsu nêu ra hôm nay.

- Giống như những dụ ngôn khác của Đức Giêsu, dụ ngôn này vừa có một ý nghĩa địa phương và cũng có một ý nghĩa mang tính phổ quát. Ý nghĩa của câu chuyện lúc nó được kể, là nhắm vào người Do Thái. Họ là tuyển dân của Thiên Chúa, cả lịch sự của họ đúng ra là một cuộc sửa soạn cho việc chào đón Đấng Mêsia ngự đến. Đúng ra họ phải chuẩn bị sẵn sàng khi Ngài đến. Nhưng họ đã không chuẩn bị để đón tiếp Ngài, vì thế họ đã bị loại ra ngoài. Đây là thảm kịch về sự không chuẩn bị của người Do Thái đã được Đức Giêsu nêu lên cách sống động. Tuy nhiên dụ ngôn này ít ra cũng có hai lời cảnh cáo chung.

+ Nó cảnh cáo chúng ta là có những điều chúng ta không thể nào để đến phút cuối cùng mới lo làm. Một học sinh để đến ngày thi mới chuẩn bị bài vở thì sẽ qúa trễ. Một người đối diện với cả đống công việc, nhưng thay vì bắt tay vào giải quyết, anh ta lại ngồi yên và lẩm nhẩm: “Mình nên bắt đầu từ đâu nhỉ!”, thì rốt cuộc, người đó chẳng thể hoàn tất được bất cứ việc gì. Nếu một người không chuẩn bị sẵn sàng khả năng và phẩm cách mà các công việc đòi hỏi thì khi nó đến gần, anh ta không còn thì giờ chuẩn bị nữa. Chúng ta đối với Chúa cũng vậy. Chúng ta rất dễ ươn lười và trễ nải, đến nỗi không còn thì giờ chuẩn bị chính bản thân cho hẳn hoi để đi gặp Chúa. Chúng ta dễ dàng vẽ ra các lí do để trì hoãn, thậm chí là tránh né các phận vụ phải làm. Suy cho cùng, những điều đó rồi cũng sẽ đưa đến một kết cục giống như các trinh nữ khờ dại mà thôi.

+ Nó cảnh cáo chúng ta, là có những điều chúng ta không thể vay mượn của người khác được. Những cô trinh nữ khờ dại khi biết mình cần đến dầu thì mới thấy rằng, không thể vay mượn được ở đâu cả. Người ta không thể mượn mối quan hệ với Chúa, nhưng chính người đó phải tự duy trì mối tương quan ấy. Chúng ta không thể vay mượn nhân cách, nhưng phải có nhân cách của riêng mình. Chúng ta cũng không thể cứ mãi sống nhờ vào vốn đạo đức của người khác, kể cả từ những người thân yêu nhất của mình, thậm chí là từ những người đạo đức thánh thiện nhất. Có những điều chúng ta phải tự chiếm lấy, tự tạo lấy cho mình vì chúng ta không thể vay mượn được. Không tiếng chuông báo tử nào nặng lời hối tiếc bằng tiếng của hai chữ “quá muộn”.

- “Vậy, điều gì đã thúc đẩy các linh mục, tu sĩ can đảm dấn thân vì sự sống của người khác như thế? Câu trả lời chính là tình yêu Đức Kitô đã thúc bách họ. Tình yêu ấy khắc sâu trong trái tim họ đến nỗi họ không thể làm ngơ trước nỗi đau khổ của anh chị em đồng loại, làm ngơ trước lời mời gọi tha thiết của các mục tử để ra khỏi sự an toàn, đến với tuyến đầu chống dịch”. Người Do Thái quan niệm rằng, người khôn ngoan chính là người có trái tim. Ai đó sẽ vặn lại chúng ta: Người nào mà chẳng có trái tim? Xin thưa, đúng là ai cũng có trái tim, nhưng sự khác nhau giữa người khôn và người dại chính là việc trái tim đặt đúng hay nhầm chỗ. Thật vậy, chỗ của trái tim là nằm trong lồng ngực. Nó được che chở, bảo vệ khỏi những tổn thương nhờ vào những chiếc xương ức, xương sườn và cột sống. Theo nghĩa này thì người dại chính là người đặt trái tim của mình sai chỗ vốn dĩ thuộc về nó. Như vậy, chẳng phải là các cô khôn ngoan không ngủ mê man trước khi chàng rể đến; bởi vì Sách Thánh nói rằng, tất cả các cô đều thiếp đi và ngủ cả. Sự khác biệt giữa khôn và dại chỉ hiện rõ lúc các cô nhìn lại dầu trong đèn của mình trước khi tiến ra đón chàng rể. Tỉnh thức không có nghĩa là không được ăn ngủ, nghỉ ngơi hay vui thú điền viên; họ được làm tất cả những điều đó sau khi đã “tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn”, tức là tích trữ lương thực phòng khi đói kém và chuẩn bị đủ áo quần cho những ngày trời bỗng dưng chuyển lạnh. Mặt khác, các cô khôn ngoan không phải là những người keo kiệt đến độ không chia sẻ chút dầu với những chị em của mình; nhưng là vì thứ dầu đó không thể xin được, không sang nhượng được và cũng không thể chia sẻ được cho người khác. Nó thuộc về sở hữu riêng của mỗi người và bất khả nhượng.

- Chắc hẳn nhiều người trong chúng ta còn nhớ những câu thơ trong bài Tâm sự của nhà thơ Tố Hữu, được viết năm 1967 thế này: “Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu / Trái tim lầm chỗ để trên đầu / Nỏ thần vô ý trao tay giặc / Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu”. Còn các tình nguyện viên của chúng ta, trái tim của họ đang được đặt ở đâu nhỉ? Tôi cho rằng, họ đặt lồng vào trong trái tim của Đức Giêsu. Điều đó chẳng có chi là cường điệu hay mơ mộng gì ở đây cả. Chính tình yêu dành cho Đức Giêsu đã thôi thúc họ lên đường, trong khi rất nhiều người khác đang được an ổn ở nhà. Họ có phải là những người dại khi lao đầu vào chỗ chết? Xin thưa là không. Ngang qua việc dấn thân phục vụ các bệnh nhân, họ đang châm thêm dầu cho chiếc đèn đức tin của mình. Bởi vì, đúng như họ nói: “Những nghĩa cử hy sinh phục vụ cao đẹp của các tình nguyện viên sẽ là dấu chỉ hữu hiệu để Tin Mừng của Chúa được chạm đến trái tim nhiều người, đặc biệt là những ai chưa tin vào Chúa”. Tôi không nghi ngờ gì về điều đó, còn bạn?

- Hôm nay Giáo hội mừng kính thánh nữ Mônica, bổn mạng các bà mẹ Công giáo; còn sứ điệp Tin Mừng mà chúng ta được nghe lại đưa đến một sự trùng hợp khá thú vị khi nói về các cô trinh nữ khôn ngoan. Đời sống đức tin của thánh nữ Mônica quả là một hành trình dài, lắm gian truân và nhiều nước mắt. Chẳng ai có thể đếm hết được những nhọc nhằn mà thánh nhân đã phải chịu đựng. Thế nhưng, chính niềm cậy trông và tín thác vào Chúa đã giúp thánh nữ Mônica vượt thắng gian lao. Chính tình thương tuyệt vời của một người mẹ đã khiến ngài không quản ngại nguy nan để đưa người con hư hỏng của mình trở về với Chúa. Chúng ta dễ có cảm tưởng là nơi trái tim của thánh nữ chỉ có duy nhất cậu con trai của mình. Những đớn đau của việc cưu mang và sinh hạ, những vất vả trong việc nuôi dạy con cái, những lắng lo cho đứa con trai đang lún sâu vào cảnh ăn chơi sa đọa… đã khiến cho thánh nhân trải qua những tháng ngày đau khổ cùng cực. Mặc dù vậy, thánh Mônica vẫn liên lỉ cầu nguyện và hằng mong một ngày nào đó, Chúa sẽ biến đổi con của mình. Những lời nguyện xin chan hòa trong nước mắt để cuối cùng, ngài thật sự được Chúa đoái thương và ban cho như lòng sở nguyện.

- Việc thánh Augustinô được ơn hoán cải quả thực là một kỳ tích và nơi đó, dấu ấn đậm nét nhất chính là mẹ của ngài. Một cách nào đó chúng ta cũng có thể nói rằng, hành trình “lột xác” của thánh Augustinô chẳng khác gì cuộc sinh hạ lần thứ hai của thánh nữ Mônica đối với con của mình. Trước kia, thánh nữ mong được chôn cất bên cạnh chồng mình; còn giờ đây, ngài nói với con rằng: “Không có gì cách xa Thiên Chúa cả. Đừng sợ rằng Ngài sẽ không biết mẹ ở đâu để phục sinh mẹ dậy. Hãy chôn cất mẹ ở đâu cũng được. Đừng lo lắng chi về điều đó cả. Mẹ chỉ xin con hãy nhớ đến mẹ tại bàn thờ Chúa khi nào con có thể”. Chắc chắn thánh Augustinô sẽ không bao giờ quên những lời di nguyện này của mẹ ngài. Một cuộc đời tận tụy với chồng con; không những thế, thánh nữ Mônica còn thực sự đã để lại cho chúng ta một tấm gương rực sáng về niềm phó thác cậy trông vào Thiên Chúa. Ánh sáng tỏa ra từ ngọn đèn đức tin của thánh nữ vẫn còn nguyên vẹn cho đến hôm nay. Đó chẳng phải là hình ảnh về các cô trinh nữ khôn ngoan, biết đặt trái tim của mình đúng nơi đúng chỗ và sẵn sàng phụng lệnh Chúa cho dù phía trước đầy sống gió hiểm nguy sao? Hơn thế nữa, đó cũng chính là điều góp phần tô điểm cho những hy sinh của các tình nguyện viên bên cạnh chúng ta hôm nay thêm lộng lẫy trước mặt thế gian: “Và nếu một ngày nào đó, chúng ta không còn thấy một trong các tình nguyện viên ấy trở về đoàn tụ với gia đình, với cộng đoàn vì đã hy sinh sự sống cho anh chị em mình thì thay vì ưu sầu, thương khóc, chúng ta hãy hân hoan đón mừng một vị tử vì đạo của thế kỷ 21, một vị thánh đã hy sinh âm thầm cho sự sống của bao người vì tình yêu Đức Kitô”.

 

 Viết Cường, O.P.

 

 

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm