Thứ Bảy, 14 Tháng Chín, 2019 16:20

HỌC HỎI PHÚC ÂM CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊN - NĂM C

 

Lc 15,1-32

 

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ, phụ trách

 

 

1. Tìm những điểm chung có trong ba dụ ngôn chiên lạc, đồng bạc bị mất và người cha nhân hậu.  Tại sao Đức Giêsu kể ba dụ ngôn này?

2. Kể lại con đường từ hư hỏng đến hoán cải của người con thứ.

3. Người con thứ có hoán cải thực lòng không? Lòng hoán cải của anh có từ từ trở nên trọn vẹn không?

4. Tìm những hành động và lời nói cho thấy người cha tôn trọng và yêu thương tha thứ cho người con thứ.

5. Tìm những hành động và lời nói cho thấy người cha tôn trọng và yêu thương tha thứ cho người con cả.

6. Tìm những nét giống nhau giữa con thứ và con cả.

7. Đọc Lc 15,1-32. Bạn thấy ai là hình ảnh của người Pharisêu và các kinh sư? Đọc Lc 18,9.

8. Đọc dụ ngôn người cha nhân hậu, bạn có gặp thấy những nét quan trọng của Bí Tích Hòa Giải (Giải Tội) không?

 

CÂU HỎI SUY NIỆM:

Bạn thấy mình giống người con nào hơn? Theo bạn, người con thứ trở về nhà cha có khó không? Người con cả chấp nhận vào nhà để dự tiệc với người em và chung vui với cha có khó không? Trở về với Cha có đòi ta trở về với anh em không?

 

 

PHẦN TRẢ LỜI

1. Một vài điểm chung giữa ba dụ ngôn: con chiên lạc (Lc 15,4-7), đồng bạc bị mất (Lc 15,8-10) và người cha nhân hậu (Lc 17,11-32). Hai dụ ngôn đầu tiên có điểm chung giữa người đàn ông mất chiên và người phụ nữ mất tiền. Đó là cả hai đều đã mất (một con chiên hay một quan tiền), đã đi tìm, đã tìm thấy, và mời bạn bè hành xóm đến chung vui với mình. Hai dụ ngôn này còn khá giống nhau ở câu cuối của mỗi dụ ngôn: “…ai nấy cũng vui mừng vì một người tội lỗi hối cải” (cc. 7 và 10). Đây là niềm vui của những người “ở trên trời” (c.7), hay của “triều thần Thiên Chúa” (c.10). Dụ ngôn thứ ba, tuy không dùng những từ giống với hai dụ ngôn trước, nhưng cũng có thể nói người cha đã mất con, đã gặp lại con, và đã mở tiệc ăn mừng (Lc 15,11-32).

Đức Giêsu kể ba dụ ngôn này để đáp lại chuyện những người Pharisêu và các kinh sư trách Ngài đã đón tiếp và ăn uống với người tội lỗi (Lc 15,1-3). Đơn giản Ngài chỉ hành động như Thiên Chúa.

2. Người con thứ hư hỏng một cách từ từ. Anh chán sống bên cha, đòi cha chia phần gia sản cho anh (1/3 tài sản). Anh muốn đi đến một “vùng xa,” nơi anh được hưởng thụ phung phí tài sản do cha để lại. Nhưng không ngờ, chính “vùng xa” đó lại là “vùng đói khủng khiếp” (c.14), nơi anh phải làm một nghề hạ tiện là chăn heo “cho một người dân trong vùng” (c.15). Chính khi bị cái chết vì đói đe dọa, anh đã hồi tâm ăn năn và muốn trở về nhà cha mình.

3. Người con thứ muốn trở về nhà cha mình khi cái đói hành hạ anh, đến độ anh nghĩ mình sẽ chết đói. Chính khi ấy anh hồi tâm và nghĩ đến tình trạng no đủ của những người làm công cho cha ở nhà. Từ đó anh quyết định trở về nhà cha với mong muốn được thành người làm công. Anh muốn trở về vì không muốn bị chết đói (c. 17). Tuy nhiên, đó không phải là lý do duy nhất, bởi lẽ anh đã bắt đầu thấy tội của mình và có lòng ăn năn (Lc 15,18-19). Anh đã thực lòng hoán cải, tuy lòng hoán cải này còn chút vị kỷ. Có lẽ khi người cha ôm hôn anh, khi anh cảm nhận được tình thương của cha, lúc đó anh mới có được lòng hoán cải trọn vẹn.

4. Người cha tôn trọng người con thứ được biểu lộ qua việc người cha không đi tìm anh như đi tìm con chiên hay đồng quan. Cha chỉ chờ đợi anh trở về vì cha tôn trong tự do của anh. Người cha yêu thương tha thứ cho người con thứ, điều này được biểu lộ qua việc ông “chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh mà hôn” (c.20). Sau đó ông còn cho anh áo đẹp nhất, nhẫn, dép, và nhất là mở tiệc ăn mừng với con bê béo (cc.22-23).

5. Người cha tôn trọng người con cả khi thấy anh “nổi giận không chịu vào nhà” (c.28). Chính người cha đã đi ra và đã năn nỉ anh để anh vào. Người cha đã đón nhận cách bình tĩnh cơn giận của anh, đã nghe lời trách móc đầy ghen tỵ của anh (c. 29), và đã chịu đựng những lời lẽ hỗn hào của anh (c. 30, “thằng con của cha đó”). Thái độ của người cha cho thấy ông yêu người con cả, người đã ở với ông và làm việc cho ông dù không hiểu ông. Ông không muốn thiếu người con cả trong bữa tiệc vui này. Ông không mất một người con nào.

6. Con thứ và con cả thật khác nhau, nhưng khi nhìn kỹ, lại thấy có những nét giống nhau. Người thì bỏ nhà ra đi, kẻ thì không chịu vào nhà. Cả hai đều phải chịu đói nếu cứ đứng ngoài nhà cha. Con thứ xa cha, nhưng con cả cũng không gần cha. Tim anh ấy không đập cùng một nhịp với tim cha: khi cha vui vì con thứ về, thì anh lại buồn. Anh tự hào vì mình không trái lệnh cha (c.29) nhưng anh lại rất xa cha vì không hiểu nổi cách cư xử của cha (c.30). Con thứ thật bất hiếu với cha khi đòi cha chia gia tài và phung phí hết sạch, nhưng con cả cũng hỗn hào khi nói chuyệnvới cha.

7. Người con cả trong dụ ngôn là hình ảnh của các ông Pharisêu và các kinh sư. Họ là những người tự hào vì mình “hầu hạ cha và chẳng bao giờ trái lệnh” (Lc 15,29). Giống người con cả, họ khó chịu khi thấy Đức Giêsu đón tiếp và ăn uống với tội nhân (Lc 15,1-2).

8. Qua chuyện người con thứ trở về với cha, ta thấy có những nét của bí tích Hòa giải. Anh đã hồi tâm, nghĩa là đã xét mình (c. 17). Anh đã ăn năn tội: “Con thật đắc tội với Trời và với cha…” (cc.18.21). Anh đã đi xưng tội: “Thôi ta đứng lên, đi về cùng cha và thưa với Người rằng…” (cc. 18.20). Anh đã đề nghị việc đền tội: “Xin coi con như người làm công cho cha” (c.19). Chúng ta hiểu ngầm việc anh dốc lòng chừa. Cuối cùng là hình ảnh của bí tích Giải tội: người cha tha thứ cho anh, ôm lấy anh và trả lại cho anh tất cả những gì anh đã mất khi đi hoang (cc. 20-24).

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm