HỌC HỎI PHÚC ÂM CHÚA NHẬT XXXII THƯỜNG NIÊN - NĂM B

Mc 12,38-44

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ, phụ trách

1. Mc 11,27-12,40 có gì đặc biệt? Hãy đặt một tựa đề cho đoạn văn này.

2. Đọc Mc 12,28-34 và Mc 12,38-40. Bạn có thấy gì lạ không?

3. Dựa trên Mc 12,38-39, hãy cho biết một số kinh sư hay phạm những tội gì?

4. Dựa trên Mc 12,40, hãy cho biết một số kinh sư còn phạm tội gì? Bạn biết gì về hoàn cảnh của các bà góa trong xã hội nước Ítraen? Đọc Is 1,17; Gr 7,6; 49,11.

5. Lương công nhật thời Đức Giêsu là bao nhiêu? Đọc Mt 20,2. Một quan tiền (dênarion) bằng 64 đồng xu? Vậy số tiền bà góa đã bỏ vào thùng có lớn không?

6. Đọc Mc 12,43-44. Tại sao Đức Giêsu lại cho rằng bà góa nghèo đã bỏ nhiều hơn mọi người khác?

7. Bạn học được gì nơi gương của bà góa này?

8. Đâu là những khác biệt giữa hình ảnh của một số kinh sư (Mc 12,38-40) và hình ảnh của bà góa nghèo (Mc 12,41-44)?


CÂU HỎI SUY NIỆM

Bạn nghĩ gì về cách đánh giá của mình về người khác? Bạn có hay đánh giá theo cái nhìn bên ngoài không? Bạn học được gì nơi cách đánh giá của Đức Giêsu trong bài Tin Mừng này?


PHẦN TRẢ LỜI

1. Mc 11,27-12,40 là một loạt sáu cuộc tranh luận giữa Đức Giêsu với các nhà lãnh đạo Do Thái giáo gồm các thượng tế, kinh sư và kỳ mục (Mc 11,27). Các vị lãnh đạo trên đây có thể là những người thuộc nhóm Pharisêu, nhóm Hêrôđê (Mc 12,13) hay nhóm Xađốc (Mc 12,18). Có thể đặt tựa cho đoạn văn là “Các cuộc tranh luận tại Đền thờ trước khi Đức Giêsu chịu khổ nạn.”

2. Mc 12,28-34 và Mc 12,38-40 có vẻ ngược nhau. Đoạn trước kể về một ông kinh sư có thiện cảm với Đức Giêsu, mở lòng đón nhận giáo huấn của Ngài, và được Ngài khen ngợi. Còn ở đoạn sau, Đức Giêsu mạnh mẽ tố cáo tật xấu của các ông kinh sư nói chung, kèm theo một lời đe dọa.

3. Phần lớn các kinh sư là những người thuộc phái Pharisêu, được dân chúng trọng vọng bởi việc giữ Luật nghiêm túc và bởi sự thông thạo về Kinh Thánh, bởi đó một số kinh sư dễ mang tính háo danh và phô trương. Các kinh sư thường mặc áo thụng khi cầu nguyện hay tham dự nghi lễ tôn giáo. Còn ở đây kinh sư lại mặc áo thụng đi tới đi lui ở nơi công cộng, để được người ta thấy và cúi chào (Mc 12,38). Họ thích ngồi hàng ghế nhất trong hội đường hay chỗ nhất trong đám tiệc (Mc 12,39). Hàng ghế nhất trong hội đường là hàng ghế quay xuống cộng đoàn, cho thấy mình vượt trội hơn những người tham dự bình thường. Chỗ nhất trong đám tiệc là chỗ gần với chủ tiệc hơn cả. Được ngồi gần chủ tiệc là một vinh dự (Lc 14,7-11).

4. Một số kinh sư lại còn bóc lột tài sản của các bà góa, và giả vờ cầu nguyện dài (Mc 12,40). Thật ra các tư tế giàu có dễ phạm tội đối xử bất công với các bà góa hơn các kinh sư. Các bà góa thuộc về thành phần dễ bị tổn thương nhất trong xã hội Do Thái. Họ không có chỗ dựa của người chồng nên thường chịu nhiều bất công, thiệt thòi. Kinh Thánh đòi buộc chúng ta phải chăm lo cho họ và biết rằng Thiên Chúa sẽ báo oán những ai bóc lột họ (Xh 22,21-23; Is 10,2). Những nhà lãnh đạo Dân Chúa mà cư xử bất công với người yếu thế, sẽ bị Thiên Chúa kết án nghiêm khắc hơn, vì họ hiểu biết về Luật Chúa nhiều hơn người bình dân. Giả vờ cầu nguyện lâu dài có thể là cách để chiếm được lòng tin của các bà góa, rồi từ đó chiếm đoạt tài sản của họ.

5. Đồng kẽm (lepton) là đơn vị tiền tệ nhỏ nhất ở nước Palestine. Bà góa đã bỏ vào hòm hai đồng kẽm (duo lepta) trị giá bằng một đồng xu (kodrantês). Một quan tiền (dênarion) bằng 64 đồng xu. Lương công nhật thời Đức Giêsu là một quan tiền (Mt 20,2). Vậy số tiền bà góa bỏ vào không lớn lắm, chỉ bằng một đồng xu, nhưng cũng đủ để mua được một chút đồ ăn.

6. Sau khi Đức Giêsu ngồi đối diện với thùng tiền và quan sát người ta bỏ tiền, Ngài gọi các môn đệ lại (xem thêm: Mc 3,13; 6,7; 8,1; 10,42), và khẳng định bà góa nghèo này đã bỏ tiền nhiều hơn mọi người khác (Mc 12,43). Đây một khẳng định long trọng, vì Ngài bắt đầu bằng câu: “Thầy bảo thật anh em…” (xem thêm: Mc 8,12; 9,1.41; 10,15.29; 11,23; 12,43; 13,30; 14,9; 18,25.30). Chắc các môn đệ rất ngạc nhiên trước khẳng định này, vì nhiều người giàu hẳn đã bỏ vào thùng những món tiền lớn. Sau đó, Đức Giêsu mới giải thích tại sao Ngài lại nói như thế: mọi người bỏ vào từ cái dư thừa của họ, còn bà này bỏ vào từ cái túng thiếu của mình. Hơn nữa bà dám bỏ vào tất cả những gì bà có, tất cả những gì bà cần để nuôi thân (Mc 12,44). Như thế Đức Giêsu cho ta thấy cách đánh giá của Ngài, cũng là cách đánh giá của Thiên Chúa. Thiên Chúa không để ý đến giá trị vật chất của lễ vật được dâng, nhưng để ý đến tấm lòng của người dâng lễ vật.

7. Qua việc bỏ vào thùng tiền “tất cả những gì bà có, tất cả những gì để nuôi thân” bà góa đã sống điều răn thứ nhất: yêu mến Thiên Chúa với tất cả trái tim và với tất cả sức lực của mình (x. Mc 12,29-30). Bà trở thành mẫu gương cho chúng ta về một tình yêu trọn vẹn, nhờ đó ai trong chúng ta cũng thấy mình có khả năng yêu mến Chúa bằng những gì nhỏ bé mình đang có.

8. Qua mô tả của Đức Giêsu trong Mc 12,38-40 ta thấy một số kinh sư mang những nét sau: thích được người khác kính nể vì học thức hay đạo đức; thích được công chúng coi trọng, đặc biệt ở những chỗ đông người như nơi công cộng, hội đường hay đám tiệc; thích có mặt ở vị trí ở trung tâm, nổi bật, trổi vượt trên người khác; có nguy cơ lạm dụng quyền lực để chiếm đoạt của cải và giả hình. Nói chung, một số kinh sư có khuynh hướng muốn mọi người coi mình là trung tâm. Mặt khác, bà góa được Đức Giêsu ca ngợi là một bà góa nghèo, nhưng có tâm hồn quảng đại (Mc 12,41-44). Khi bỏ tiền dâng cúng trong Đền thờ, bà đã dâng cho Chúa tất cả những gì bà đang có, dù chỉ là số tiền ít ỏi so với bao người khác. Lòng yêu mến Chúa mạnh mẽ khiến bà không lo bảo đảm cuộc sống cho chính mình, chấp nhận phó thác.

Từ khoá:
Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Học hỏi Phúc Âm Chúa nhật IV Phục sinh năm B
Học hỏi Phúc Âm Chúa nhật IV Phục sinh năm B
Trong Chúa nhật Chúa Chiên Lành, bạn mong các linh mục tu sĩ giống Đức Giêsu, người Mục Tử tốt lành, ở những điểm nào.
Thập tự giá
Thập tự giá
Thập tự giá là khung gỗ có hình chữ T của tiếng Hy Lạp, đôi khi có hình chữ thập như trong chữ Hán, người Rôma dùng để cột hoặc đóng đinh các phạm nhân nô lệ hoặc không phải công dân của họ vào đó
Hoàn thiện trong đời sống đức Tin
Hoàn thiện trong đời sống đức Tin
Hai ngàn năm qua, Giáo hội rao giảng một Tin Mừng duy nhất, đó là Tin Mừng Chúa Phục Sinh. Thiên Chúa là đấng trung tín. Chúa luôn luôn yêu thương chúng ta và không bao giờ phản bội con người.
Học hỏi Phúc Âm Chúa nhật IV Phục sinh năm B
Học hỏi Phúc Âm Chúa nhật IV Phục sinh năm B
Trong Chúa nhật Chúa Chiên Lành, bạn mong các linh mục tu sĩ giống Đức Giêsu, người Mục Tử tốt lành, ở những điểm nào.
Thập tự giá
Thập tự giá
Thập tự giá là khung gỗ có hình chữ T của tiếng Hy Lạp, đôi khi có hình chữ thập như trong chữ Hán, người Rôma dùng để cột hoặc đóng đinh các phạm nhân nô lệ hoặc không phải công dân của họ vào đó
Hoàn thiện trong đời sống đức Tin
Hoàn thiện trong đời sống đức Tin
Hai ngàn năm qua, Giáo hội rao giảng một Tin Mừng duy nhất, đó là Tin Mừng Chúa Phục Sinh. Thiên Chúa là đấng trung tín. Chúa luôn luôn yêu thương chúng ta và không bao giờ phản bội con người.
Xương
Xương
“Cứ rờ xem, ma đâu có xương có thịt như anh em thấy Thầy có đây” (Lc 24,39).
Emmau - Đamas
Emmau - Đamas
Có thể nói, đường đi Emmau đâu có khác chi đường đi Đamas. Hai môn đệ chán chường về quê, Saolô hăng hái lên đường bắt bớ.
Chạm vào lòng thương xót của Chúa
Chạm vào lòng thương xót của Chúa
Đoạn Tin Mừng hôm nay dù đã được chọn đọc cho lễ Chúa Nhật thứ hai Phục Sinh trước khi gắn với lễ kính Lòng Thương xót của Chúa, nhưng cũng cho chúng ta cơ hội khám phá ra dung mạo tuyệt vời của lòng Chúa xót thương được thể...
Hôm nay
Hôm nay
Hôm nay có nghĩa là giây phút hiện tại mà con người được Thiên Chúa mời gọi sống theo đúng ơn gọi của mình trong mối tương quan với Thiên Chúa, với bản thân, với tha nhân và với vạn vật.
Mộ
Mộ
Truyền thống thời các tổ phụ cho biết, người ta dùng hang động tự nhiên để làm mộ: Abraham mua ở Hebron, nơi có hang Makpela làm nơi ông và bà Sara được mai táng (St 23,19 25,9).
Họ đã thấy và đã tin
Họ đã thấy và đã tin
Mầu nhiệm Phục Sinh là mầu nhiệm nền tảng của Đức tin Kitô giáo. Thánh Phaolô khẳng định, nếu Chúa Kitô không sống lại thì niềm tin của chúng ta ra vô ích, và Kitô hữu là những người khốn khổ nhất (x.1Cr 15,17-19).