Thứ Sáu, 08 Tháng Chín, 2017 15:24

Người ngoại đạo

“... hãy kể nó như một người ngoại đạo ...” (Mt 18,17).

Từ chỉ người ngoại đạo theo cách dùng trong Cựu Ước.

- Để chỉ người ngoại quốc: “Họ thỏa hiệp với người ngoại quốc” (Is 2,6; x. 2V 23,4-7; Xp 1,4-6).

- Để chỉ các tôn giáo ngoại lai (đối với Do Thái giáo), dân và xứ ngoại “... (ngươi) vừa giao du với tượng thần ngươi ưa chuộng, vừa nhìn ngắm bia thờ” (Is 57,8; x. Ac 1,10; Am 7,17).

Trong các sách Phúc Âm, dân ngoại đồng nghĩa với lương dân “Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại ...” (Mt 6,7; x. Mt 5,47; 6,32 // Lc 12,30; Mt 18,17).

Từ người ngoại giáo được dùng để chỉ những người không phải là dân Do Thái hoặc Kitô hữu.

- Người ngoại là những người thờ ngẫu tượng: “khi còn là người ngoại, anh em bị lôi cuốn mãnh liệt vào việc thờ cúng những ngẫu tượng câm” (1Cr 12,2; x. 1Cr 10,7; Xh 32,6; 1Cr 10,20).

- Dân ngoại là những người phóng đãng: “Trong quá khứ, anh em đã sống theo sở thích dân ngoại: dâm ô, mê đắm, nhậu nhẹt, say sưa, chè chén, tin vô thờ quấy ... ” (1Pr 4,3; x. 1Cr 5,1).

- Nhiều tín hữu sống giữa dân ngoại: “Anh em hãy ăn ở ngay lành giữa dân ngoại, để ngay cả khi họ vu khống, coi anh em là người gian ác, họ cũng thấy các việc lành anh em làm mà tôn vinh Thiên Chúa trong ngày Người đến viếng thăm” (1Pr 2,12; 3Ga 7).

LM. Phạm Quốc Túy - Giáo phận  Phú Cường

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm