Thứ Hai, 20 Tháng Tư, 2015 13:45

Ngày ấy đâu rồi, dệt mền Bùi Môn?

Tầm 50 năm về trước, ai ai cũng biết đến làng dệt mền cotton truyền thống gồm toàn người Công giáo tại giáo xứ Bùi Môn. Qua thời gian, danh tiếng này dần nhạt nhòa, hư hao. Cộng thêm cuộc soán ngôi ngoạn mục của nghề dệt lưới làm cho số nhà còn dệt mền đếm tới đếm lui vẫn dư mấy ngón tay...

VÀNG SON MỘT THƯỞ

Đến Bùi Môn ngày xưa, đi khắp các con đường, ngõ hẻm đâu đâu cũng nghe tiếng máy dệt kêu ầm ầm suốt ngày. Nhà nào nhà nấy lúi húi, tất bật với công việc. Thời điểm đó, giáo dân ấp Tân Tiến, xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn, TPHCM bắt đầu nức danh với nghề dệt mền cotton. Nguyên gốc vốn là dân Bùi Chu di cư vào năm 1954, sau khi đặt chân đến Sài Gòn, một số người đã học cách dệt của người Chợ Lớn (quận 5) rồi mang về ứng dụng, khai mở ra làng dệt. Thấy làm ăn có lời, người này học hỏi người kia, dần dà phát triển và tạo tiếng tăm uy tín.

Mền rồng, mền phụng bằng cotton nhẹ, trời lạnh hay nóng đều đắp được, giá cả lại không quá đắt, phần chưa có nhiều mẫu mã, chất liệu mới để cạnh tranh nên thị trường mền bấy giờ tiêu thụ rất mạnh. Dệt mền vì thế trở thành chỗ dựa kinh tế cho nhiều gia đình. Anh Nguyễn Quang Minh, làm mền hơn 30 năm cho biết: “Giai đoạn mền hưng thịnh nhất là từ năm 1980 đến 1990, lúc này gần như 80% số dân nơi đây sống bằng nghề mền. Mà phải công nhận là thu nhập bấy giờ được lắm, có đồng ra đồng vô nên ai cũng phấn khởi”. Cũng từ đó, người ta nói vui với nhau rằng, dân Bùi Môn mà đi tới đâu không cần xưng danh người kia cũng biết, vì nhìn các kẽ tay, kẽ chân còn dính màu nhuộm họ khẳng định liền: “Dệt mền Bùi Môn phải không?”. Còn không thì qua âm lượng của giọng nói cũng đoán được. Lý do là máy móc chạy ầm ầm không ngơi nghỉ nên nói chuyện gì cũng phải “to tiếng” mới nghe được. Thành thử ra, tán dóc, đọc kinh, chào hỏi nhau bên ngoài ai nấy đều quen kiểu “rổn rảng, sang sảng”.

Công đoạn đánh ống từng cuộn sợi

Được đà đi lên, mền cotton dệt ra không chỉ bỏ mối cho các tiểu thương ở Chợ Lớn hay Tân Bình mà còn đủng đỉnh bước sang Campuchia. Người Campuchia vốn thích màu sặc sỡ nên những tấm mền ngũ sắc rất được họ ưa chuộng. Hàng đắt không kịp giao, nhiều hộ phải mướn người làm các công đoạn “vắt hồ, xả hồ” và may đầu mền. Vô hình trung đã tạo thêm công ăn việc làm cho những ai rảnh rỗi, kể như một công đôi chuyện. Lúc đỉnh điểm, do người người, nhà nhà toàn dệt mền nên những khoảnh sân, lề đường, ngay cả sân nhà thờ đều được tận dụng triệt để để phơi sợi sau khi nhúng hồ. Chỗ nào có nắng là lập tức có những cuộn sợi xanh đỏ treo lủng lẳng. Ông Hùng, một giáo dân nhớ lại: “Hồi đó, xe ba bánh không vô được nhiều đường hẻm, còn xe máy phải chạy chậm chậm vì các hàng cây phơi sợi dày đặc lấn chiếm. Đầu trên xóm dưới đâu cũng vậy hết, riết rồi ai cũng quen”. Nhưng đến mùa mưa thì đúng là nhớ đời. Vừa dệt trong nhà vừa phải hóng tai nghe có hột nào rơi hay không, và chỉ cần có ai đó báo động “Mưa!” một tiếng thì nhanh như chớp, mạnh ai nấy chạy như ong vỡ tổ để thu gom sợi đang phơi. Để mưa thấm ướt coi như uổng công, vừa mất thời gian vừa khó chịu vì mùi hôi âm ẩm trong mấy ngày. Lúc này còn là những đường đất đỏ nên lắm người vì quáng quàng, cuống cuồng mà vồ ếch liên miên. Xe máy cũng đành đứng lại để nhường, nếu không dễ gây va chạm. Kể ra thì cảnh chạy mưa ấy cũng là kỷ niệm vui đáng nhớ, pha chút hóm hỉnh với người trong nghề. Tất cả những điều trên có thể xem như vài nét chấm phá để khắc họa nên khung cảnh dệt mền Bùi Môn ngày xưa: sung túc, no đủ.

TIẾC NUỐI NGÀY QUA

Quang cảnh ngày trước đẹp đẽ, tươi sáng bao nhiêu thì ngày nay ảm đạm, hắt hiu bấy nhiêu. Về Bùi Môn bây giờ vẫn còn nghe âm thanh xành xạch, đì đùng của máy móc phát ra từ các gia đình. Nhưng rảo khắp các hẻm to hẻm nhỏ, sẽ không khỏi ngỡ ngàng khi biết rằng đó là tiếng máy dệt lưới chứ chẳng phải dệt mền. Từ gần 100 hộ làm mền, nay vỏn vẹn chỉ còn năm, tập trung ở những hộ còn mặt bằng để phơi sợi và sản phẩm chủ yếu làm cho một số bệnh viện. Cả người lẫn của như trở nên lạc lõng, chơ vơ. Cơ sở của ông Trịnh Ngọc Hiến chuyển sang dệt mền bằng sợi polyeste từ nhiều năm trước chứ không còn làm sợi cotton cổ truyền. Con trai ông, anh Trịnh Quốc Hưng nói thêm: “Dệt bằng sợi cotton rất vất vả, tốn công sức trong khi dệt polyeste nhàn và nhanh nên gia đình chuyển sang hướng này, dù giá mền bán ra sẽ thấp hơn”. Mà đúng là dệt mền rất cực. Phải trải qua 10 công đoạn và đòi hỏi nhiều kỹ thuật. Tuần tự là guồng sợi, tách sợi, ngâm sợi hai ngày rồi đem nhúng hồ, nếu mền màu lại phải nấu sôi thuốc nhuộm đổ chung vào nồi hồ, xong sẽ vắt, giũ hồ, đây là khâu thường chỉ nam giới làm vì cần sức lực. Kế tiếp đem phơi hai ngày, nếu trời mưa có khi cả tuần, phơi xong mang vào đánh ống, mắc trục, dệt, cắt, cuối cùng là may hai đầu mền. Một máy dệt trung bình mỗi ngày cho ra 25 cái mền, giá 44.000 đồng/cái (đối với mền cotton), giá sợi thì 41.000 đồng/kg. Mất 800gam sợi để cho ra một cái mền khổ 2,0m x 1,45m, trừ chi phí vốn tính ra còn lời chừng 4.000 đồng/mền. Người dân tạm đủ sống.

Người thợ đang thay con thoi ở công đoạn dệt

Trong số năm hộ còn níu giữ nghề xưa, gia đình anh Nguyễn Quang Minh (46 tuổi) gắn bó lâu đời nhất. Từ đời bố đến đời con đã có hơn 40 năm làm mền. Nhiều lần cũng muốn giã từ khi chung quanh ai cũng bỏ cuộc nhưng đôi lúc có người tìm tận nhà để đặt mền cứu trợ, làm từ thiện khiến anh cứ vương vấn mãi cái nghề. Giữa một khu xóm toàn dệt lưới, căn nhà dệt mền của anh như lọt thỏm, trơ trọi. Vẫn thủy chung với cách dệt cotton truyền thống, không đua theo xu hướng mới, anh đang cố níu kéo làng dệt dần chết mòn từng ngày. Dẫn khách đi xem quy trình dệt, anh bảo: “Mình làm lâu năm rồi nên nếu bỏ đi những ống sợi, tấm mành kia thấy thiếu thiếu, không quen thế nào. Không biết mền còn sống được bao lâu, nhưng còn nước còn tát, ngày nào hay ngày đó”. Trong nhà xưởng không lớn lắm, bốn người thợ đang miệt mài thay thoi, đút suốt giữa tiếng máy kêu chát chúa. Gần đó, tiếng máy dệt lưới cũng vang lên ầm ầm. Liệu mai đây nó có lấn át hoàn toàn âm thanh nhỏ yếu kia không?Nhưng vào mùa mưa hàng dệt ít, thêm nữa là mền chỉ bán chạy vào mùa lạnh nên để lo cho bài toán cuộc sống, nhiều nhà phải dệt thêm lưới. Chia sẻ nguyên do dệt mền dần lụi tàn, đi vào ngõ cụt, một người dân lý giải : “Đầu tiên là sự tràn sang của mền Trung Quốc, Thái Lan làm mình cạnh tranh không nổi. Rồi thì dệt mền quá cực nhọc, vất vả, nếu dệt lưới, không sợ trời mưa và tốn nhiều công đoạn như thế. Nhất là mền cần phải có người đứng máy trong khi dệt lưới hoàn toàn máy tự động, rất khỏe”. Ngoài ra, cung nhiều cầu ít làm hàng hay bị tồn ứ cũng là trở ngại khiến người dệt chùn chân, nản chí. Không chỉ vậy, sợi lưới không có bụi nên hạn chế các căn bệnh viêm mũi, phế quản, phổi... Rủi ro tai nạn cũng ít hơn bởi nhiều người dệt mền đã bị hư mắt khi con thoi bắn vào. Con cái học hành rồi đi làm bên ngoài, ít chịu nối gót nghề này từ cha mẹ. Làng dệt mền ngày càng mai một, mong manh như ngọn đèn trước gió.

Tấm mền đã được hoàn thành

Hình thành, xây dựng, phát triển được một làng nghề thật khó nhưng từ bỏ nó thì thật dễ. Đành rằng vì nhu cầu đời sống mới phải nói lời giã từ những tấm mền mộc mạc, bình dị. Dẫu vậy, vẫn không khỏi đượm buồn, chạnh lòng khi nghĩ đến nguy cơ một làng nghề Công giáo sẽ biến mất trong nay mai. 

Giáng Hương

Ý kiến bạn đọc ()
Tin tức liên quan
Tin khác