Thứ Hai, 20 Tháng Tư, 2015 13:26

Nón lá Phủ Cam giờ ra sao?

Ba ngày đến Huế, trong tiết trời lạnh cắt da thịt, với chiếc xe máy “vẫn còn tốt chán so với tuổi thực của nó!” được các dì trong Đan viện Cát Minh (Dòng kín Huế) cho mượn, tôi rong ruổi trên khắp các phố lớn, hẻm nhỏ. Đi để ôn lại ký ức, để biết Huế đã thay đổi thế nào sau nhiều năm trở lại và để đối chiếu với trí tưởng tượng của mình. Nhờ “đi và đi”, tôi may mắn được “rỉ tai”: Phủ Cam trước đây vốn là một làng chằm nón nức tiếng ở Huế. Chiếc nón lá Huế từng đi vào văn chương chủ yếu được “xuất xưởng” từ nơi đây.

Nét đẹp đất cố đô

Áo dài và nón lá là hai trong nhiều nét văn hóa đặc trưng không thể trộn lẫn của người Việt Nam. Nón lá xuất hiện ở  nước ta từ 2500-3000 năm trước công nguyên. Những hiện vật được tìm thấy như trống đồng Ngọc Lũ, trống đồng Đông Sơn, thạp đồng Đào Thịnh đã chạm khắc hình chiếc nón của người Việt từ xa xưa dùng lá buộc lại làm vật che mưa, tránh nắng. Và khi được hoàn thành, nó hội tụ đủ mọi sắc thái: bình dị, đoan trang, đơn sơ, duyên dáng Ngày nay có khá nhiều loại nón như nón dấu, nón quai thao, nón thúng, nón lá sen, nón bài thơ Nón lá trông giản dị là vậy, nhưng để tạo ra chúng thì thật công phu và tỉ mỉ. Công phu đến từ khâu làm khung; từ việc tạo ra 16 chiếc vành to nhỏ khác nhau; từ việc chọn, phơi lá, ráp khung. Lá nón đẹp đòi hỏi phải có màu trắng xanh, phải chọn lá vừa đủ tuổi để 8 - 9 lá đủ chằm một cái nón Tuy nhiên, tinh hoa của nón lá chủ yếu đến từ công đoạn chằm, ngoài kinh nghiệm còn đòi hỏi sự tỉ mỉ, cần mẫn, cộng chút khéo tay mới kết thành những chiếc nón có đường may đẹp, tinh tế.

Áo dài và nón lá, hai nét đẹp không thể trộn lẫn của người Việt

Làng nón Phủ Cam nằm ở phường Phước Vĩnh, ngay trung tâm thành phố Huế, bên bờ nam sông An Cựu với phần lớn là giáo dân giáo xứ Chánh tòa cùng tên. Theo sử sách từ thế kỷ XVII, một cộng đoàn giáo dân ở Phủ Cam đã được hình thành, khi linh mục người Pháp là Langlois được điều về Huế, đã lập ra giáo xứ này, quy tụ dân chúng theo đạo, phát triển và mở rộng nghề chằm nón. Trải qua chiều dài lịch sử, Huế thơ mộng đã nâng bước cho nón lá Phủ Cam bay xa, nhưng nếu nói ngược rằng nón lá Phủ Cam nâng tầm đất Huế cố đô thêm thơ mộng cũng chẳng sai! Vì từ bao đời nay, hình ảnh cô gái Huế trong trang phục áo dài, đội nón bài thơ, tóc thề xõa ngang vai đã đi vào thi ca, nghệ thuật như một biểu tượng với phong cách dịu dàng, đằm thắm, thanh lịch của con người đất cố đô.

Mai mốt là ký ức ?

Ngày trước đa số giáo dân trong xứ Phủ Cam đều theo nghề chằm nón, người nơi đây bảo phải lên đến trên 80%. Thời ấy từ già đến trẻ, từ đàn ông đến đàn bà ai ai cũng làm, vì lúc hưng thịnh, nón lá Huế có nhiều “đất diễn” hơn: nón theo người ta ra đồng, nón đội đi làm, theo các mệ đi chợ, đội nón lá chạy xe đạp cũng trở thành một hình ảnh “kinh điển” Ngoài sự khéo tay trong từng chiếc nón phổ thông (nón có ba lớp lá), người Huế còn sáng tạo ra chiếc nón bài thơ - nón có hai lớp lá, ở giữa có đôi câu thơ, cầu Tràng Tiền, chùa Thiên Mụ được cắt bằng giấy và đặt vào. Để thấy được vẻ đẹp đầy thi vị này, người ta phải soi ra trước ánh sáng. Theo thời gian, nón lá nơi đây ngày một lùi sâu vào “dĩ vãng”, rồi trong tiến trình đô thị hóa, nó được thay thế bằng những chiếc mũ thời trang, giới trẻ hầu như không còn ai đội nón lá trên đầu, có chăng cũng chỉ là những buổi trình diễn áo dài trên sân khấu. 

Do vậy, từ con số hàng trăm, giờ đây Phủ Cam chỉ còn không quá mười gia đình làm nghề, mà thật ra mỗi gia đình cũng chỉ có một, hai người làm. Chị Trần Thị Thúy, sống ngay sau lưng nhà thờ chánh tòa là một trong số ít những người còn sót lại. Ngày sinh ra bị dị tật thiếu mất một cánh tay, biết sau này lớn lên khó chọn được nhiều nghề, sẵn có nghề gia truyền nên chị theo học từ năm 13 tuổi. Dù rất khó khăn nhưng nhờ cố gắng, chị nhanh chóng thạo nghề. Ngày nay, nhà chị là nơi những đoàn khách du lịch thường xuyên lui tới để xem, để thưởng thức một nét văn hóa của người Việt. Nón làm ra được chị bán cho khách mỗi khi họ đến tham quan, với giá thị trường hiện nay 50.000đ với nón thường, 60.000đ với nón bài thơ. Mỗi ngày một người thợ lành nghề chỉ làm tối đa được hai chiếc, trong khi chi phí bỏ ra mất khoảng 15.000đ/cái. Số tiền lời chừng 70.000đ/ngày, xem ra cũng đủ trang trải cho người độc thân như chị Thúy, riêng với ai còn lo cho gia đình, thu nhập đó khá eo hẹp. Vì thế nên chằm nón ngày càng mai một.

Chị Thủy, một trong những người còn giữ nghề chăm nón ở Phủ Cam

Cùng lưu luyến nghề chằm nón, nhưng hai mẹ con bà Trần Thị Năm chỉ làm những lúc rảnh rỗi. Bà cho hay, trước đây đó là nghề chính của cả làng Phủ Cam, đi đâu cũng thấy nón, tới nhà nào cũng thấy người ngồi chằm. Hình ảnh này giờ thật họa hiếm, như chị Thúy trước khi chia tay đã khẳng định: “Nếu không bị tật thì đã không chọn nghề chằm nón là nghiệp chính cho bản thân”.

Dễ hiểu vì sao nghề chằm nón không còn sức hấp dẫn như xưa. Đàn ông, trong nhiều việc lao động chân tay vẫn có thu nhập cao hơn 70.000đ/ngày công chằm nón. Nhiều phụ nữ cũng chạy theo các công việc làm thuê, buôn bán, số khác làm văn phòng Trẻ em được cha mẹ  thúc đẩy việc học hành để tương lai có công việc ổn định với bằng cấp đỗ đạt. Xã hội hiện đại giúp người tàn tật, bậc cao niên có thêm nhiều chọn lựa hơn trong cuộc sống chứ đâu chỉ “chăm chăm” vào nghề nón Việc bảo tồn làng nghề xem ra thật khó!

Tuy nhiên, bài toán đó không hẳn vô nghiệm. Nút thắt quan trọng là làm sao để người theo nghề có thể sống được với chiếc nón. Muốn vậy phải bán được nón, và bán có giá! Nhưng bán cho ai? Khách du lịch là đáp án đầu tiên. Trong những cuốn sách hướng dẫn mà du khách cầm trên tay có nhắc đến địa danh làng nón lá Phủ Cam. Hành trình tham quan của nhiều công ty du lịch cũng không bỏ qua vùng chằm nón. Điều này được thể hiện qua việc các đoàn du khách biết đến chị Thúy, người sống ở căn nhà trong một con hẻm ngoằn ngoèo trên đường Trần Phú. Ngoài ra, nón lá cũng phải được bán rộng rãi hơn, vì đi khắp Huế mỏi mắt cũng thấy không mấy chỗ bán, có chăng cũng chỉ trong chợ Đông Ba, chợ An Cựu... Mặt khác, có thể cải tiến để nón lá chất lượng hơn, mang đậm văn hóa người Việt hơn nữa nhưng hợp thẩm mỹ với người phương Tây để có thể xuất khẩu ra nước ngoài. Nón bán được, nhiều người trở lại với nghề, nón Phủ Cam không bị rơi vào dĩ vãng.

Bởi lẽ, một khi làng chằm nón Phủ Cam mất đi, Huế cũng không còn một nét đẹp truyền thống lâu đời, hơn nữa đó còn là nét đẹp của ký ức. Như vậy sẽ thật tiếc

Võ Quới

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác