Thứ Năm, 04 Tháng Bảy, 2019 11:00

“Ðể phục vụ...”

 

Tôi sinh ra trong một gia đình Công giáo từ lâu đời. Lâu từ đời nào thì tôi không rõ. Tôi chỉ biết chắc là ông sơ của tôi (cụ Trần Gấm, cụ tổ mà chúng tôi hiện biết được) có hai người con trai đều là Công giáo: đó là ông cố nội của tôi (cụ Trần Ðiêng) và ông nội của Ðức Giám mục Trần Hữu Ðức.

Tôi cũng không biết là gia đình tôi thuộc thành phần xã hội nào theo bậc thang của xã hội hiện tại. Nhà tôi có mấy sào ruộng do ông bà (cụ ông Trần Phú và cụ bà Trần Thị Mận) để lại, không tự canh tác, mà cho người ta canh tác, cuối vụ chia phần, hình như là 50/50. Cha tôi (ông cố Trần Văn Hòe) làm cai lục lộ và mất lúc tôi mới hơn một tuổi; mẹ tôi (bà cố Thân Thị Quế) phải buôn bán nuôi năm người con (chị thứ hai của tôi, Anna Trần Thị Nhị chết lúc mới sinh ra).

 

Gia đình chúng tôi đủ ăn, nhưng không đủ tiền cho tôi đi học vì các trường đều ở xa nhà. Hệ thống trường học ở Việt Nam cho tới cuối thời Pháp thuộc, mỗi huyện may lắm mới có một trường tiểu học, huyện Hương Khê - Hà Tĩnh của tôi chỉ có trường sơ học; cả ba tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình, địa bàn của giáo phận Vinh ngày nay, chỉ có một trường cao đẳng tiểu học, tương đương với trường phổ thông cơ sở ngày nay. Tương đương về số năm học, chứ không tương đương về trình độ, bởi vì đậu bằng Thành Chung cuối cấp cao đẳng tiểu học thời Pháp thuộc có thể làm quan phủ quan huyện hay thông ngôn thông phán cho Tây, chứ tốt nghiệp phổ thông cơ sở ngày nay, cũng chỉ làm lao động phổ thông.

Tôi học lớp năm (lớp Ðồng Ấu) ở trường huyện, rồi được gởi đi theo linh mục Trần Ðình Báu (con bà cố Thọ là em ruột của ông ngoại tôi) từ năm 1936 - 1938, học tiếp cấp sơ học ở trường xứ Kẻ Mui, Hương Sơn - Hà Tĩnh; từ năm 1939 - 1944 học tiểu học ở Trường Thử Xuân Phong, Diễn Châu - Nghệ An; từ năm 1944 - 1950 học Tiểu Chủng viện Xã Ðoài, Nghi Diên, Nghi Lộc, Nghệ An; từ năm 1951 đến 1953 học trường Trung học Thiên Hựu - Huế; từ 1953 - 1963 học Ðại Chủng viện Xuân Bích ở Paris và Khoa lịch sử ở Ðại học Sorbonne - Pháp. Như thế có nghĩa là tôi được học hành đến nơi đến chốn là nhờ Giáo hội, chứ không phải nhờ gia đình.

Cha mẹ tôi và các anh chị tôi là những người dân bình thường, cam phận chịu đựng sự cai trị của người Pháp mà không có lời than trách phản kháng nào, dẫu chỉ trong nhà với nhau. Tôi có biết là một cậu họ của tôi (ông Thân Trọng Tùng, cháu gọi ông ngoại của tôi là bác ruột) có tham gia phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh: là cán bộ tới nhà xứ Tràng Ðình (huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh) vận động linh mục chánh xứ Tràng Ðình tham gia phong trào, nhưng cuộc vận động bất thành và xảy ra xô xát. Linh mục Trần Ðình Báu, nghĩa phụ của tôi, vì tham gia phong trào chống Pháp cùng với linh mục Lê Sương Huệ, bị phát giác và bị giám mục địa phận Vinh, Ðức cha Eloy-Bắc, bắt đi an trí, hè năm 1944, tại Ðan viện Phước Sơn ở Quảng Trị, cho tới sau khi Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945) mới được trở về coi xứ.

Tất cả những biến động liên quan đến họ hàng tôi cũng như tin tức về các cuộc khởi nghĩa của nhân dân Việt Nam trên cả nước đã không hề gây nên, nơi tôi, một tình tự dân tộc nào hay một sự phản kháng nào đối với sự cai trị của Pháp. Tôi vẫn thản nhiên ngồi học ở Trường Tập Xuân Phong và Tiểu Chủng viện Xã Ðoài dưới thời các giám đốc, đều là những thừa sai Pháp mà không hề đặt vấn đề Cố Tây, Cố Ta.

 

Mùa thu năm 1945, khi Cách mạng tháng Tám diễn ra, tôi đang học trường năm (tức lớp đệ ngũ) ở Tiểu Chủng viện Xã Ðoài và có bị cuốn hút theo phong trào yêu nước lúc đó, nhất là tôi rất thích thú với việc các linh mục Việt Nam quyết liệt đòi giám mục và các thừa sai Pháp trao quyền cai quản địa phận cho hàng giáo sĩ Việt Nam: linh mục Trần Hữu Ðức, người chú họ của tôi, lại được bầu làm Tổng quản đứng đầu điều hành địa phận Vinh thay Ðức Giám mục Éloy- Bắc người Pháp.

Nhưng tất cả đó đã sớm tiêu tan như một ngọn lửa rơm. Tôi lại bắt đầu thản nhiên chúi đầu vào việc học, mặc dầu Pháp đã bắt đầu chiếm lại Sài Gòn, ngày 23.9.1945, và các đô thị miền Nam và miền Trung, rồi Hà Nội (ngày 19.12.1946), và các đô thị miền Bắc.

Cuối năm học 1949 - 1950, chủng sinh về nghỉ hè mà không biết bao giờ tựu trường, bởi vì Giám mục và các thừa sai Pháp, bị tập trung ở nhà xứ cầu Rầm - Vinh, ra lệnh tạm thời đóng cửa các chủng viện. Tháng 6-1950, tôi đã theo người anh cả của tôi (ông Trần Quang Hải) tìm cách vượt biển ra Hải Phòng. Dĩ nhiên, tôi cũng sợ bị bắt dọc đường và ra Hải Phòng với một cái tên mới, tên từ đó tới nay.

Mục đích của tôi ra Hải Phòng năm 1950 không phải để chạy trốn, bởi vì ở tuổi 20 tôi đã chưa làm gì nên tội, để phải chạy trốn. Mục đích của tôi ra Hải Phòng là để tìm cách được học tiếp.

Trong một năm chờ liên lạc với bề trên của địa phận Vinh ở vùng Pháp chiếm đóng, tôi đã làm pointeur ở Cảng Hải Phòng, tức là công việc nhận hàng của khách từ tàu chuyển xuống rồi cho xếp vào kho và hướng dẫn khách lấy hàng mẫu đi khai hải quan, cuối cùng làm thủ tục cho khách nhận hàng, công việc nhẹ nhàng nhưng phải biết chút ít chữ nghĩa.

Ðầu niên học 1951 - 1952, tôi được gọi vào học ở Trường Thiên Hựu - Huế và sau hai năm ở Thiên Hựu, được linh mục Cao Văn Luận, một linh mục ưu tú của địa phận Vinh du học ở Pháp từ 1939 - 1945, khi về nước gặp lúc chiến tranh không về phục vụ địa phận được, phải ở lại Huế, thu xếp cho tôi sang Pháp học.

Ðây là một đặc ân, nhờ sự can thiệp của ông Nguyễn Ðệ, ngự tiền văn phòng của Ðức quốc trưởng Bảo Ðại. Bởi vì lúc đó, tất cả thanh niên có bằng cấp từ Thành Chung trở lên, không được phép xuất ngoại, chờ lệnh gọi nhập ngũ vào học trường sĩ quan quân đội, ở Ðà Lạt, sau ở Thủ Ðức.

 

 Ngày 28.6.1958, tôi được lãnh nhận sứ vụ linh mục tại nhà thờ Ðức Bà Paris, với trên 40 bạn học đồng khóa ở Ðại Chủng viện Xuân Bích, phần lớn là người Pháp, chỉ một số ít thuộc các nước khác với 06 người Việt Nam trong đó có tôi.

Ðối với chúng tôi, đó là đích đến sau một quá trình dài đào tạo một cách chính quy và bài bản để làm linh mục.

Khuôn mẫu linh mục chuẩn được nêu lên cho chúng tôi suy ngẫm và học tập trong những năm ở chủng viện là một linh mục người Pháp, Gioan Vianney, quản xứ Ars (Curé d’Ars). Ðó là một linh mục bình thường không có gì đặc biệt trong suy nghĩ, trong cuộc sống cũng như trong những công việc đặc biệt, nhưng là một linh mục mẫu mực, sống nghèo và sống hết mình phục vụ giáo hữu trong việc cử hành các Bí tích và giảng giải Lời Chúa ở một xứ đạo vùng cao, mộc mạc và nghèo nàn, của nước Pháp.

Làm linh mục, đối với tất cả hơn 40 anh em chúng tôi, là phục vụ trong các xứ đạo, làm phó xứ rồi làm chánh xứ; linh mục nào xuất sắc hay có học vị bằng cấp thì được dạy ở chủng viện hay ở các trường Công giáo, nhưng nhiệm vụ chính vẫn là cử hành các Bí tích và giảng dạy Lời Chúa. Con đường đã được vạch sẵn.

Sau khi nhận sứ vụ linh mục, tôi được ở lại Pháp học đại học để sau về dạy Tiểu Chủng viện. Nhưng những năm học ở Paris đã cho tôi nhiều tiếp xúc để mở mắt và mở trí.

Ngày 28.10.1958, đúng 4 tháng sau khi tôi lãnh sứ vụ linh mục, Ðức Hồng y Roncalli, 77 tuổi, được bầu làm Giáo hoàng với danh hiệu Gioan XXIII. Sau một triều đại giáo hoàng tương đối dài (1939 - 1958) của Ðức Piô XII, nghiêm khắc và xa cách, bầu không khí trở nên ngột ngạt trong Giáo hội, mọi người đều  mong muốn một sự thay đổi, nhưng chưa biết sẽ có thể thay đổi như thế nào và cứ tưởng triều đại của Ðức Gioan XXIII chỉ có thể là một triều đại chuyển tiếp.

Nhưng Ðức Gioan XXIII đã sớm tỏ ra là một vị Giáo hoàng của canh tân đổi mới trong cung cách làm giáo hoàng cũng như trong chủ trương đường lối.

Hiền từ, dễ gần gũi và cởi mở với mọi người, với thế giới cũng như với các tôn giáo và các giáo hội khác, Ðức Giáo Hoàng Gioan XXIII đã làm cho thế giới đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác. Nhất là lệnh triệu tập Công đồng Vatican II được công bố ngày 25.01.1959, rồi việc chuẩn bị Công đồng cũng như các cuộc họp của Công đồng đã cho phép có những cuộc trao đổi và thảo luận tự do và thẳng thắn trong Giáo hội. Từ đó, đã nổi lên, một cách bức xúc, nhu cầu và yêu cầu canh tân và đổi mới trong Giáo hội: Giáo hội cần phải tẩy sạch những lớp bụi đã phủ đầy khuôn mặt của mình qua mấy chục thế kỷ để làm tỏa sáng khuôn mặt của Ðức Kitô, Ðấng đã đến “để cứu vớt chứ không phải lên án”, “để phục vụ chứ không phải để được phục vụ”. Giáo hội phải trở về nguồn.

Một trong những quyết tâm của đa số nghị phụ của Công đồng là Giáo hội phải là “Giáo hội của người nghèo”. Một số Giám mục ở Nam Mỹ đã bán các tòa giám mục ở những khu phố sang trọng để về sống trong các khu lao động nghèo. Ðức Giáo Hoàng Phaolô VI, người kế vị Ðức Gioan XXIII, đã cho bán đấu giá mũ ba tầng đầy kim cương và ngọc quý để lấy tiền giúp người nghèo...

Chỉ là linh mục sinh viên ở Paris, nhưng qua báo chí cũng như qua các buổi nói chuyện của một số nghị phụ Công đồng mà tôi được tham dự, tôi cũng đã hiểu được tầm quan trọng của Công đồng Vatican II đối với tương lai của Giáo hội, và từ đó cũng bắt đầu thấy rõ hơn hướng đi của đời linh mục của mình.

Văn kiện của Công đồng Vatican II cho tôi nhiều soi sáng nhất là Hiến chế Mục vụ về Giáo hội trong thế giới hôm nay. Ðó là đường hướng mục vụ mới của Công đồng: Giáo hội không ở ngoài thế giới, không coi thế giới như xa lạ hay đối lập với mình; nhưng Giáo hội ở trong thế giới, lấy thân phận của thế giới làm thân phận của mình. Trong lời nói đầu, Hiến chế Mục vụ viết: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của môn đệ Chúa Kitô... Thực vậy Cộng đoàn của họ được cấu tạo bằng những con người được quy tụ trong Chúa Kitô... Vì vậy cộng đoàn ấy mới nhận thấy mình thực sự liên hệ mật thiết với loài người và lịch sử nhân loại”.

Giáo hội chính là cộng đoàn tín hữu, môn đệ Chúa Kitô, gồm các Giám mục, các linh mục và các giáo hữu. Muốn có  một Giáo hội trong thế giới hôm nay thì phải có những Giám mục, linh mục và giáo hữu thấy và có liên hệ mật thiết với thế giới loài người. Thấy và có được liên hệ với thế giới không phải là điều đơn giản và dễ dàng, mà là cả một quá trình nhận thức và sống, đòi hỏi quyết tâm và kiên định.

Là linh mục của Giáo hội, tôi muốn được góp phần vào việc đào tạo các linh mục theo đường hướng mục vụ mới của Công đồng Vatican II. Bởi vì tôi thấy linh mục là khâu then chốt: nếu các Giám mục thấy và có liên hệ mật thiết với thế giới, mà các linh mục không thấy và không muốn, thì các giáo hữu nói chung có thể không thấy và không muốn.

*

Nhìn lại 50 năm đời linh mục của mình, tôi thấy rằng con đường tôi đã đi trong suốt 45 năm qua, từ khi tôi ở Pháp về, không phải là con đường mà tôi đã chọn cho mình: con đường tôi đã chọn là con đường bằng phẳng của một giáo sư Ðại Chủng viện, nhưng con đường đó đã bị ngăn chặn ngay khi mới chuẩn bị xong: năm 1963; khi tôi về Vườn Xoài, tôi tưởng rằng đó chỉ là chỗ dừng chân tạm thời, không ngờ đó lại là điểm xuất phát của một cuộc phiêu lưu dài ngày và trên con đường phiêu lưu đó, hầu như một định mệnh, tôi đã gặp và đã đi toàn với những nhóm người thiểu số.

Năm mươi năm nhìn lại, tôi tự thấy mình là “Người  đầy tớ vô dụng” như Chúa Giêsu nói trong Tin Mừng.

Là linh mục, tôi đã chẳng làm được việc gì ra trò. Có người an ủi tôi: “Anh đã làm được một vài công trình”. Nhưng đó cũng chẳng là gì, chẳng thay đổi được gì, khi số đông còn suy nghĩ khác.

Tôi nghĩ, nếu có cái gì còn lại trong 50 năm qua, chính là những gì đã làm chung được với các anh chị em khác: nó đã nẩy mầm và đang phát triển. Nó có thể còn nhỏ nhoi, có thể chưa thành phong trào rộng lớn, nhưng phải trở thành một phong trào rộng lớn, không phải của Ða số hay của Thiểu số, mà là của những tín hữu “sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”, như Thư chung 1980 của Hội đồng Giám mục Việt Nam dạy.

 

(Trích hồi ký “50 năm nhìn lại” của cố linh mục Phêrô Trương Bá Cần - 2008)

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm