Thứ Sáu, 25 Tháng Giêng, 2019 13:39

Ðọc báo xuân Công giáo và Dân tộc 2019

 

Lắm người kỹ tánh, mỗi năm hễ có được vài tập báo Xuân vừa phát hành thì liền đem cất ngay vào tủ, đợi đúng vào mấy ngày đầu năm mới, nhân lúc được thong thả ngồi bên chén trà thơm thơm, cạnh bình hoa tươi đẹp đẽ thì mới cầm báo Xuân, lần giở từng trang, thưởng thức dần.

Tôi thiếu tánh nhẫn nại đó, có báo Xuân thì xem liền, không thể đọc nguội. Bởi vậy, hôm Thứ Bảy 12.01, tôi đã cho phép mình ăn Tết sớm, với những món ăn tinh thần “ngon lành” mà tòa soạn Công giáo và Dân tộc chăm chút dọn ra thết đãi.

 

Báo Xuân đẹp, bài hay, nhiều thông tin bổ ích và hấp dẫn. Tôi tạm nêu ra vài điểm thú vị và tâm đắc như sau:

1.

 Hai mẩu viết ngắn Hoài niệm kẹo Tết xưa của Bùi Thị Diễm Thảo (tr. 48) và Kẹo ú mùi gừng của Phan Lê Minh Tuấn (tr. 49) làm tôi nhớ Tết tuổi thơ của mình ở xã Mỹ Luông (quận Chợ Mới, tỉnh An Giang) hồi nửa đầu thập niên 1960. Hai tác giả viết sao mà giống kỷ niệm xa xưa của tôi đến thế! Riêng mẩu Bánh chao đỏ của Nguyễn Thị Thủy (tr. 48) làm tôi nhớ lại thời sinh viên hay ngồi ở mấy tiệm nước người Hoa trong Chợ Lớn, vì một bạn đồng môn hào phóng vốn là Hoa kiều, thường đãi cà phê tại đó, kèm thêm món bánh chao, uống kèm nước trà nóng được chủ tiệm để sẵn cả ấm tích giữa bàn, uống bao nhiêu tùy thích, không phải trả thêm tiền. Anh bạn người Hoa giảng giải rằng bánh chao ăn ngon, béo miệng, có đủ mùi vị “tàng ẩn” trong đó bởi vì nó đích thị là bánh “xà bần”, tái chế từ bánh trung thu, bánh pía, bánh in, bánh xà lam cũ, v.v… vốn đã quá đát (?).

 

2.

 Bài Chúa Hài Đồng và con heo mọi của Nguyên Hà (tr. 72-73) rất thú vị, cung cấp thêm một bằng chứng về sự hội nhập của đạo Chúa vào đời sống tâm linh người dân tộc ở Tây Nguyên. Bài viết này giải tỏa cho tôi thắc mắc khi vừa cầm tập báo Xuân, liền lật ngược để xem bìa 4. Ảnh chụp lại tranh Đức Mẹ người dân tộc (tr. 73) không chỉ rất mỹ thuật mà còn cho thấy tính mở (openness) của Công giáo Việt Nam ngày nay.

 

3.

 Bài Tuồng Joseph (tr. 50-51) bất ngờ cung cấp thêm cho tôi một thông tin về đối chiếu thuật ngữ tôn giáo. Quý bạn đọc hoan hỷ cho phép tôi hơi dông dài ở chỗ này một chút, vì lẽ có mối “đại kết” giữa Cao Đài và Công giáo Việt Nam mà chúng ta cần lưu tâm. Đầu đuôi thế này:

Gần đây tôi chú ý tìm hiểu về sự kiện bên cạnh thuật ngữ Tam Giáo (Nho, Lão, Phật) còn có khá nhiều thuật ngữ đạo Chúa được dùng trong đạo Cao Đài. Một trong các thuật ngữ đó là đồng nhi.

Trong đạo Cao Đài, đồng nhi là trẻ nhỏ (nam và nữ) con cái nhà đạo, được tuyển chọn để nhờ giáo nhi (một nữ chức việc) dạy cho biết cách tụng kinh. Khi tập luyện thuần thục rồi thì đồng nhi được đưa vào thánh thất, thánh tịnh, thánh đền đứng tụng kinh trong các thời cúng.

Mỗi khi đọc kinh, đồng nhi chia thành hai ban nam, nữ và đứng phân biệt hai bên (nam tả nữ hữu). Nếu có điều kiện thì tuyển lấy ít nhất là mười hai nam và mười hai nữ cho mỗi ban. Nếu tuyển được ba mươi sáu nam và ba mươi sáu nữ thì rất tốt, vì làm đúng theo lời Đức Chí Tôn dạy các môn đệ vào ngày Thứ Bảy 11.9.1926:

[Trần Thị] Lựu và [Nguyễn Thị] Hiếu! Tập một lũ nữ đồng nhi chừng ba mươi sáu đứa đặng mỗi khi đại lễ, nó tụng kinh cho Thầy. Bên nam cũng vậy. [Cao Quỳnh] Cư, [Phạm Công] Tắc, [Cao Hoài] Sang, Phú! Mấy con cũng phải dạy ba mươi sáu đứa nam đồng nhi nữa.

Đồng nhi vốn là một thuật ngữ đạo Chúa, được Petrus Jean Baptiste Trương Vĩnh Ký ghi nhận trong quyển Petit dictionnaire français-annamite, 1192 trang, in tại Imprimerie de la Mission (Tân Định, Sài Gòn, 1884), cụ thể như sau:

- Enfant de choeur: Đồng nhi hát lễ. (tr. 571)

- Maîtrise: Chỗ tập đồng nhi hát lễ. Sự coi sóc đồng nhi hát lễ. (tr. 786)

Trước Petrus Ký bảy năm, soạn giả J.M.J. (không rõ viết đủ tên là gì) xuất bản quyển Tự Vị An Nam - Pha Lang Sa. Dictionnaire annamite-français, 916 trang, in tại Imprimerie de la Mission (Tân Định, Sài Gòn, 1877) không ghi nhận đồng nhi như một mục từ.

Gần đây, hai quyển Từ điển Công giáo, 536 trang (Hà Nội: Nxb Tôn Giáo, 2011) và Từ điển Công giáo, 1.218 trang (Hà Nội: Nxb Tôn Giáo, 2016) do Ban Từ Vựng Công giáo (Ủy Ban Giáo lý Đức tin thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam) biên soạn đều không có mục từ đồng nhi.

Như vậy, thuật ngữ đồng nhi không còn dùng trong các cộng đoàn Công giáo Việt Nam kể từ bao giờ?

Tình cờ tôi biết rằng trước năm 1975, tại Thủ Đức vẫn còn dùng thuật ngữ đồng nhi. Nữ ca sĩ Trúc Mai (nổi tiếng ở Sài Gòn trước đây) vốn là một Kitô hữu. Khoảng chừng năm ngoái, khi trả lời phỏng vấn ở hải ngoại, chị đang đeo thánh giá (xem ảnh). Vì người phỏng vấn còn rất trẻ, xưng con với chị, nên chị xưng và nói: “Cô xuất thân là đồng nhi hát ở nhà thờ Thủ Đức”. Chị cho biết thêm, lúc bắt đầu làm đồng nhi, chị mới mười hai tuổi.

Trở lại bài viết Tuồng Joseph của Trần Nhật Vy, tác giả có dẫn mẩu tin đăng báo Nam Kỳ Địa Phận số 418 ngày 08.02.1917 viết về bà nhứt nhà mồ côi Tân Định như sau: “(B)à đã có công trong họ lâu năm, là lo nuôi dưỡng con mồ côi, và lập trường dạy đồng nhi nam nữ, sau lại các bà có tập đồng nhi làm một tuồng rất hay mừng trong mấy ngày Tết (…).”

Như vậy, tôi thấy rất lạ là sau Petrus Ký mười một năm, và trước Nam Kỳ Địa Phận hai mươi hai năm, khi xuất bản quyển I của bộ Đại Nam Quấc Âm Tự Vị, 608 trang, in tại Imprimerie Rey, Curiol & Cie (Sài Gòn, 1895), Huình Tịnh Paulus Của đã không ghi nhận đồng nhi như một mục từ với nghĩa như Petrus Ký giảng giải.

 

4.

 Mối “đại kết” thứ hai giữa Cao Đài và Công giáo Việt Nam mà tôi hoan hỷ gặp được trong tập báo Xuân CGvDT 2019 chính là bài “... Hãy cứ sống yêu thương, sống tốt lành, Chúa Thánh Thần sẽ hướng dẫn người khác nhìn thấy và tìm đến với Chúa” của Đức Giám mục Anphong Nguyễn Hữu Long (Chủ tịch Ủy ban Loan báo Tin Mừng). Thêm lần nữa, tôi lại xin quý bạn đọc hoan hỷ cho phép tôi được dông dài ở chỗ này một chút.

Liên tục từ giữa năm 2008 tới nay, tôi chủ biên Chương Trình Chung Tay Ấn Tống Kinh Sách Đại Đạo, và đã in để biếu tặng (không bán) được hơn một trăm năm mươi đầu sách mỏng dày đủ loại nhằm phổ thông, phổ truyền giáo lý Cao Đài, tức là làm công việc truyền giáo. Tôi hăng say làm công quả này mà không hề e ngại rằng bản thân chỉ là một tín đồ “trơn” trong đạo Cao Đài, không có chức sắc, không mang phẩm vị, và cũng không thuộc về một Hội Thánh Cao Đài nào đang hiện hữu. Vậy, điều gì đã soi dẫn, nâng đỡ đức tin cho tôi làm việc truyền giáo dù tôi không phải là giáo sĩ? Chính là thánh giáo ngày Chủ Nhật 20.8.1967 tại thánh tịnh Ngọc Minh Đài (quận Tư, Sài Gòn), với lời Đức Giáo Tông Đại Đạo Thái Bạch Kim Tinh huấn dụ:

“Bần Đạo nói một điều chót này nữa để chư đệ muội an lòng mà hành sự: Giáo lý Đạo Trời cốt đem lại những gì hạnh phúc cho vạn loại, cho tất cả mọi tầng lớp chúng sanh, không riêng cho lớp người nào, cho tôn giáo nào, cho phe phái nào. Nếu có riêng là riêng cho những người dục vọng, bại hoại lương tri. Còn sự phổ thông giáo lý Đại Đạo cũng không dành riêng cho lớp người nào. Ai cũng có thể làm được, miễn là hiểu được đường lối, mục đích và chủ trương cao cả của nó. Việc làm này không luận là lớn tuổi, nhỏ tuổi, không luận là Hội Thánh hay Tòa Thánh, cũng không luận là có đạo nhiều năm hay người mới vào, ít tuổi đạo. Nó đã đến, đang đến và sẽ đến với những ai am tường Thiên ý, học hỏi đạo lý, tận tụy phổ thông, say sưa truyền bá.”

Từ thánh ý vừa dẫn trên, tôi vui sướng khi bắt gặp một nét “hòa điệu liên tôn” qua lời Đức Giám mục Anphong Nguyễn Hữu Long như sau (tr. 11):

“Một bộ phận không nhỏ các tín hữu, thậm chí cả những người theo ơn gọi bây giờ vẫn suy nghĩ, truyền giáo là việc của những người được giao trách nhiệm. Đây là cách hiểu chưa đúng. Do đó, tại cuộc hội thảo của Ủy ban Loan báo Tin Mừng trong năm 2018 vừa qua, chúng tôi đã cố gắng khơi dậy tinh thần, khuyến khích người giáo dân ý thức và tham gia tích cực vào sứ mạng này, bởi vì đây là vai trò của mọi Kitô hữu, không phân biệt linh mục, tu sĩ hay giáo dân”.

 

Nhưng, tôi phải dừng nơi đây, kẻo tòa soạn CGvDT lại trách: Ối chà! Có bao nhiêu cái hay ho của tập báo Xuân mới vừa phát hành, không lẽ cứ để ông Dũ Lan đem ra khoe hết hay sao?

 

Bên thềm Xuân Kỷ Hợi

 

DŨ LAN

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm