Thứ Tư, 25 Tháng Giêng, 2017 11:54

Góp nhặt những ký ức Tết…

Định cư ở Mỹ từ lâu, nhưng năm nào tôi cũng ăn Tết ở quê nhà, trừ đâu năm đầu đặt chân đến quốc gia này và một lần khác nữa là hai cái Tết xa quê.

1.

 Tôi đi qua Mỹ diện đoàn tụ, rời quê nhà vào đêm mùng Một Tết. Lúc đó California vẫn còn là sáng Ba Mươi. Đến Mỹ, tôi ăn Tết với thân nhân, cũng bánh chưng, dưa, mứt… đủ đầy. Tham dự thánh lễ đầu năm vào sáng mùng Ba Tết (hôm đó Chúa nhật) ở nhà thờ của Đại Chủng viện Tổng giáo phận Portland (Oregon), cách thành phố khoảng gần một giờ xe chạy. Thánh lễ gần như có tới 80% là người Việt, kể cả chủ tế và 10 chủng sinh giúp lễ (sau tôi mới biết là từ Tổng Giáo phận Hà Nội sang tu học). Vậy mà diễn ra hầu như toàn bằng tiếng Anh, trừ bài giảng nửa Anh, nửa Việt.

Ngồi giữa cộng đoàn xa lạ, chỉ có dăm người thân bên cạnh, tôi cảm nhận ra mình bơ vơ, dù đang sống chung một lòng tin, đang cùng hướng lòng về Chúa là Mùa Xuân Vĩnh Cửu, với những ước nguyện chân thành. Tôi không thể cầu nguyện được gì, vì cứ nhớ và nghĩ tới những người thân yêu khác trong gia đình còn đang ở quê hương và cái Tết không trọn vẹn : Ngay sáng mùng Một đã bịn rịn chia tay, miếng bánh chưng và chút bánh mứt ngậm ngùi giữa người đi kẻ ở... Tôi bật khóc lúc nào không nhớ. Hình như là ngay lúc cộng đoàn chúc bình an cho nhau với những cái bắt tay hờ hững, những lời chúc “Happy new year” nhạt nhẽo, thiếu tình… Rồi đến bữa ăn cuối lễ được dọn trong hội trường lớn, các cha, các thầy và cộng đoàn giáo hữu Việt Nam cũng bày soạn đầy đủ như Tết bên nhà. Tôi vẫn nghẹn ngào không muốn ăn. Mấy đứa con, cháu tôi cũng mới từ Việt Nam sang, đứa nào mắt cũng đỏ hoe. Tất cả đều nhớ nhà, nhớ Tết đoàn viên đông đủ người thân, bạn bè, và những ngày nghỉ Tết còn kéo dài...

Lần thứ hai tôi ăn Tết ở Mỹ cách đây ba năm. Nghe lời gia đình, tôi thu xếp sang Mỹ từ giữa tháng Chạp (vì hiện phần lớn thời gian tôi sống ở Việt Nam), nên không chỉ đợi tới ngày “ăn Tết”, mà còn thực sự được tham gia vào việc chuẩn bị đón Tết với cộng đồng.

Ở các thành phố có đông người Việt định cư, như vùng Orange County, San Diego, San Jose (Cal.), Houston, Dallas (Texas), Portland (Oregon)… mà tôi có dịp ghé thăm, không khí Tết cũng ồn ào, náo nhiệt từ rất sớm. Các cộng đoàn Công giáo tổ chức nhiều sinh hoạt : cũng múa lân, phát lộc thánh, chúc Tết cha sở… Đặc biệt, vừa để gây quỹ giáo xứ, vừa có dịp để các hội đoàn làm thiện nguyện, vừa đáp ứng nhu cầu của giáo hữu, hầu hết đều tổ chức gói bánh chưng bán giá rẻ hơn bên ngoài khoảng 3-4 USD/cặp.

Bánh chưng ở Mỹ to đùng. Chiếc nào cũng phải 6-7 pounds (khoảng hơn 3kg). Nếp thường là nếp Thái, lá chuối Philippines, đậu xanh, tiêu… hàng Tàu, chắc chỉ có thịt heo, muối là của Mỹ. Không có lá dong, dây buộc bằng tre, nứa như ở quê, bánh gói từ khuôn ra, không buộc dây mà bọc lại bằng giấy bạc, cột hờ bằng mấy sợi dây thun. Nấu xong, mang ra tháo bỏ lớp giấy bạc, để nguội rồi quấn lại bằng màng nhựa mỏng. Muốn đẹp hơn thì cột thêm bên ngoài một dải băng đỏ. Tết bên này, sức mua mạnh nhất trong cộng đồng người Việt có lẽ ngoài bánh chưng, bánh tét, là giò thủ, giò lụa, dưa món… Quà đi thăm biếu người thân, quý nhất là hộp chôm chôm, hộp vải tươi… nhập từ Hàn Quốc hay Philippines.

Hầu như không có thánh lễ Giao thừa ở nhà thờ. Và không biết từ bao giờ, việc đón nhận “lộc thánh đầu Xuân” cũng đã thâm nhập vào các giáo xứ Việt Nam. Thường đó là những miếng giấy nhỏ, in bằng máy tính. Một vài nơi chu đáo thì nhờ người nhà hay các thân hữu từ Việt Nam mua gởi sang ngay từ dịp Noel, vì hình thức đẹp, phong phú nội dung Lời Chúa. Nhà thờ nào cũng chưng những cành đào rực rỡ. Đào ở đây nhiều, gần như trong vườn nhà ai cũng có. Mai thì không tìm ra, người ta thường chưng những cành hoa cũng có sắc vàng, nhiều người gọi cho đỡ nhớ là “mai Mỹ” hay “mai giả”.

2.

Gặp thăm một người anh em trong họ đang là linh mục, phục vụ tại các cộng đoàn người Việt bên Mỹ, tôi kể lại câu chuyện đón Giao thừa ở giáo xứ gia đình tôi đã sống suốt gần 50 năm qua : Kể từ những năm đầu 1970 của thế kỷ trước, cha sở ở đây (một giáo xứ tại Long Thành, Đồng Nai, thuộc giáo phận Xuân Lộc) đã có sáng kiến, và nhiều gia đình vẫn duy trì mãi tới bây giờ, dù cha đã về hưu. Đó là, Giao thừa nào cũng có thánh lễ lúc 22h30, kết thúc lúc hơn 23h, kịp cho mọi người về tới nhà chuẩn bị giờ kinh sum họp vào khoảnh khắc thiêng liêng nhất của ngày đầu năm mới, theo như cha gợi ý. Giờ kinh ngắn gọn, với tâm tình tạ ơn và phó thác cho Thiên Chúa là Mùa Xuân Vĩnh Cửu, để không ai chia trí bởi pháo hoa ngập trời, ca nhạc tưng bừng ngoài phố xá hay trên các kênh truyền hình thường mở hết cỡ trong các gia đình thời khắc giao mùa. Ngay sau giờ kinh, người cao niên nhất là ông bà hay cha mẹ sẽ đặt tay lên đầu con cháu để chúc phúc cho chúng nhân danh Chúa. Tiếp đến, một người thay mặt các con, cháu trong nhà cám ơn và chúc tuổi cho bậc sinh thành. Mọi chương trình sau đó thế nào tùy mỗi nhà. Lúc đầu hầu hết các gia đình đều bỡ ngỡ, ngại ngùng, nhưng chỉ 1-2 năm sau quen dần, trở thành một tập quán, mà theo tôi là rất tốt đẹp, thánh thiện, nối kết được truyền thống văn hóa dân tộc và Đức Tin Công giáo…

Thấy hay, Tết năm sau, vị linh mục gốc Việt ở Mỹ mà tôi vừa kể có đề nghị làm “thử nghiệm”, nhưng không mấy thành công. Lý do là các gia đình ở hải ngoại thường sống tương đối độc lập, ít nhà nào có đông đủ các thành viên 1 hoặc 2 thế hệ sống chung. Lại nữa, do điều kiện sinh hoạt, ngày Tết vẫn như ngày thường, ai cũng bận rộn (vì Mỹ có ăn Tết Ta đâu !). Năm nào may mắn Tết rơi vào những ngày cuối tuần còn có dịp đón Giao thừa, đón Tết theo tập tục truyền thống quê nhà. Còn thường chỉ được ăn Tết muộn chí ít cũng cả 4-5 ngày sau.

Tập tục, và sau này đã trở thành phụng vụ chính thức của Giáo hội Công giáo Việt Nam về 3 ngày Tết: mùng Một mừng tuổi Chúa, cầu bình an; mùng Hai kính nhớ ông bà, tổ tiên; mùng Ba thánh hóa công việc làm, tuy cũng được nhắc nhớ trong các cộng đoàn tín hữu bên này nhưng thực tế rất ít người tham dự được, cũng vì chuyện mưu sinh tất bật.

3.

Điều làm tôi ngạc nhiên và cảm động là một lần chứng kiến cảnh đặt tay lên đầu, nhân danh Chúa chúc phúc cho con cháu, không phải ở xứ đạo quê tôi, mà ở Ermont, ngoại ô Paris, cách đây mấy mùa Xuân.

Một vị linh mục già gần 90 tuổi, nổi tiếng vì cuộc sống và đời mục tử của ngài gần như gắn với những con người bần cùng, khốn khó, trẻ bụi đời, người vô gia cư…, ngay khi còn ở Vũng Tàu và sau này là ở Pháp. Ngài từng nổi tiếng là “người ăn xin khắp nước Pháp” để có điều kiện nuôi nấng, chăm sóc cho lũ con cái nhếch nhác, dở người, dở ngợm. Tết năm đó, sáng mùng Một, quây quần bên cha trong một ngôi biệt thự cũ nát, sập xệ, không có lò sưởi, chăn nệm cũng là những thứ hàng người ta hết dùng đem cho hay bỏ ngoài vệ đường. Ngài dâng thánh lễ trong căn phòng nhỏ có sức chứa chỉ khoảng hơn hai chục người. Mấy đứa con ở với cha hiện diện đông đủ, dù trong đó chỉ 3-4 người có đạo, nhưng tất cả đều sốt sắng tham dự, và ngài đã đặt tay lên đầu mỗi người để chúc phúc và  nguyện cầu ơn trên phủ hộ.

Bài giảng ngắn gọn súc tích, mà đến giờ tôi vẫn không quên : “Hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa trước, rồi mọi điều khác Chúa sẽ ban cho thêm dư dật. Đừng lo lắng quá về ngày mai sẽ ăn gì, mặc gì…, mọi sự Chúa sẽ làm… Về tám mối phúc thật, mỗi người chọn cho mình một mối để ráng sống; nhưng mối nào cũng đòi hỏi nhiều công sức, sợ chúng ta khó làm nổi. Có lẽ tương đối dễ dàng là chúng ta chọn mối “phúc cho những ai xây dựng hòa bình”. Xây dựng và mang bình an cho chính mình, cho những người chung quanh. Khó nhưng mà dễ thôi : hãy nhường nhịn nhau, sống vì nhau bằng yêu thương chân thành…”.

PHẠM HÙNG NGHỊ

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm