Thứ Tư, 19 Tháng Năm, 2021 20:35

Lễ hội dân gian - một bảo tàng sống

 

Lễ hội là một hiện tượng văn hóa dân gian nhằm thỏa mãn đời sống tinh thần và đời sống tâm linh không thể thiếu của con người trong xã hội truyền thống và hiện đại. Ðây là loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian tổng hợp, bao gồm nhiều thành tố: nghi lễ, tín ngưỡng, tôn giáo, kiến trúc, điêu khắc, trang trí, âm nhạc, múa, trò diễn sân khấu, trò chơi, thể thao, thi tài, trưng bày hiện vật... Việt Nam có một kho tàng lễ hội dân gian phong phú, đa dạng, sống động và hấp dẫn. Hằng năm, ở nước ta có đến 8.000 lễ hội lớn nhỏ, từ cấp làng xã đến quốc gia. Riêng trong tháng Giêng có 61 lễ hội vùng miền và quốc gia.

Bức tranh lễ hội Việt Nam hết sức phong phú, từ lễ hội nông nghiệp (hội đền Phật Tích, hội cấy Cao Thượng, hội thuyền Tam Giang, hội chen Nga Hoàng...), lễ hội làng nghề (giỗ tổ thợ bạc, tổ ngành tuồng, tổ nghề rèn Hiền Lương (Huế), nghề dệt lụa Vân Sa (Hà Tây), nghề gốm Thổ Hà (Bắc Ninh)..., lễ hội lịch sử (lễ hội Hùng Vương, An Dương Vương, hội Gióng, lễ hội Hai Bà Trưng, lễ hội Ðức Thánh Trần, lễ hội Lăng Ông Bà Chiểu... cho đến các lễ hội tôn giáo (chùa Dạm, chùa Dâu - Bắc Ninh), lễ thu tế ở làng Chuồn (Huế), lễ hội điện Hòn Chén..., lễ hội liên quan đến văn nghệ, giải trí (Quan họ (Bắc Ninh), hoát Xoan (Phú Thọ), hát Ðúm (Hải Phòng), hát Dặm (Nam Hà), hát Ả đào (Hà Nội)...; lễ hội thi tài (kéo co, thi chạy, phóng lao, đấu roi, đấu vật, đánh phết, cướp cầu (vật cù)...

Lễ hội Cúng trăng Ok Om Bok

Lễ hội dân gian như một bảo tàng, một “tập thành văn hóa”, nơi lưu giữ những tín ngưỡng, tôn giáo sinh hoạt văn hóa dân gian, ẩn chứa bên trong những “mã văn hóa”, nơi phản ánh rõ nét nhất tâm thức của dân gian trong xã hội nông nghiệp cổ truyền Việt Nam trong cơ tầng văn hóa Ðông Nam Á. Nội dung chính của lễ hội dân gian phản ánh các mặt của đời sống thường nhật, thể hiện khát vọng hướng thượng lại vừa trần tục của con người mà qua bao đời đã được cố định, tuân theo những quy ước tưởng chừng như bảo thủ, bất biến.

Lễ hội Chử Ðồng Tử (10-13/2 al, Hải Dương) thể hiện chuyện tình say đắm, kỳ lạ trong tình sử Việt Nam, đồng thời ghi lại công đức của ba vợ chồng nhân vật anh hùng văn hóa này. Biểu tượng của hội vừa muốn theo sát truyền thuyết để giữ cái riêng, vừa muốn phản ánh cái phổ biến trong hội làng. Chử Ðồng Tử cũng được xem là ông tổ của nghề đi buôn.

Là một lễ hội ở quy mô nhỏ nhưng Hội làng Ðồng Kỵ vẫn nổi tiếng khắp cả nước bởi duy trì được nét truyền thống đặc sắc. Hội rước pháo làng Ðồng Kỵ là hoạt động tiêu biểu nhất mà người dân làng nghề giàu có nhất vùng Bắc Ninh còn lưu giữ được đến ngày nay. Nghi thức truyền thống được nhiều người dân mong đợi nhất trong suốt 3 ngày của lễ hội (mùng 4, 5, 6 tháng Giêng). Hội thi làm pháo và đốt pháo trước đây vừa tưởng nhớ, tái hiện lại âm vang ngày Thánh Thiên Cương - vị tướng sau này được dân tôn thờ làm Thành Hoàng làng ra lệnh xuất quân đánh giặc Ân. Sâu xa trong đó còn là ý nghĩa của lễ tục liên quan đến tục thờ mặt trời của cư dân nông nghiệp nguyên thủy.

Lễ hội Cúng trăng Ok Om Bok (Ðút cốm dẹp) của người Khmer còn có ý nghĩa “giã từ mùa ẩm ướt” theo lịch Khmer, bắt đầu mùa khô hàng năm. Lễ cúng đình ở Nam bộ từ chỗ “xuân kỳ, thu tế” ở quê cũ được giản lược thành một lễ Kỳ yên (cầu an) tổ chức vào đầu mùa khô hàng năm. Lễ hội Nghinh Ông của cư dân ven biển được xem như “ngày giỗ Ông” và là lễ hội nghề nghiệp của những người làm nghề biển giã, được xem là “Tết biển” của dân đánh bắt.

Âm nhạc trong hát chầu văn gắn liền với nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng Tứ phủ (Ðạo Mẫu) là những di sản văn hóa có giá trị. Nghệ thuật múa rồng, múa lân, múa hẩu trong các lễ hội của người Hoa không chỉ là nghệ thuật biểu diễn dân gian mà còn là sợi dây kết nối cộng đồng với thần linh. Múa cờ lau tập trận trong ở hội Trường Yên (Ninh Bình) nhằm tái diễn việc xây dựng cơ nghiệp nhà Ðinh, dẹp được loạn sứ quân cát cứ, thu giang san về một mối; cầu mong thần Sông giữ cho dòng nước mát hiền hòa, phù trợ cho dân nước Ðại Việt tránh mọi điều ác dữ… Hát bội là loại hình sân khấu không thể thiếu trong lễ cúng Kỳ yên, cúng cá Ông, Bà Chúa Xứ, Dinh Cô... để dâng lên cho thần linh và thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ nghệ thuật của quần chúng, trong đó có cả những bài học đạo lý về đối nhân xử thế qua những tuồng tích ca ngợi sự trung nghĩa.

Kiến trúc nhà mồ trong lễ hội Pơthi của người Bana và Jrai ở Tây Nguyên là những tác phẩm mỹ thuật dân gian đích thực, công phu với một tổ hợp tượng gỗ đủ loại: tượng chim, tượng thú, tượng người, trong đó hình ảnh linga và yoni nổi bật. Các đồ án trang trí trong nhà mồ phản ánh quan niệm của tộc người về vũ trụ, về cõi sống và cõi chết của đồng bào vùng cao.

Lễ hội dân gian thường bắt nguồn từ tín ngưỡng của một cộng đồng (tôn giáo, nhân thần, thiên thần) nên yếu tố tâm linh trong lễ hội khá đậm nét. Chất thiêng trong lễ hội chi phối toàn bộ tính chất và hành động hội, được biểu hiện qua lễ thức, nghi thức và các hoạt động văn hóa trong lễ hội. Thông qua lễ hội, con người muốn tái sinh thời gian, trong một không gian phi trần tục. Từ những hoạt động thiêng đến những hoạt động văn hóa nghệ thuật, đem đến cho người tham dự niềm cộng cảm và củng cố tinh thần cộng đồng của toàn thể người đến tham dự. Tính cộng đồng và cố kết cộng đồng là nét đặc trưng và giá trị tiêu biểu nhất của lễ hội. Tính cộng đồng đó thể hiện qua sự cộng mệnh và cộng cảm, suy tôn đối tượng thờ cúng. Khi tham dự lễ hội, người dân hướng đến đối tượng mình suy tôn là thần linh, các thế lực siêu nhiên với một thái độ thành kính, để mong nhận được “năng lượng thiêng” qua việc tắm mình vào lễ hội, hòa với cộng đồng.

Thực tế vận động của lễ hội những năm gần đây đã có những biểu hiện tiêu cực (như lễ hội phát ấn đền Trần, lễ hội chùa Hương, hội Gióng), biến tướng với nhiều mức độ khác nhau nhiều biến tướng, qua những biểu hiện thái quá, như một ảnh chiếu hiện trạng xã hội. Người tham dự lễ hội giờ đây đã mang tính vụ lợi, là sự “đổi trao” với thần thánh, nên mới có chuyện cầu chức, “cầu ghế” trong lễ hội đền phát ấn đền Trần ở Nam Ðịnh, nó khác rất xa với ý nghĩa nguyên sơ ban đầu - một lễ thức của những viên chức nhà nước ngày xưa nhằm kết thúc công việc hành chính của một năm. Hay tâm lý thực dụng qua việc nhét tiền vào tay Phật, thả tiền xuống giếng cầu may, dâng lễ vật, vàng mã tốn kém thường thấy nhiều trong các lễ hội.

Những trò diễn trong các lễ hội phồn thực giao duyên ngày xưa như tung còn, cầu tằm, cướp kén, cướp bông, đánh phết cướp cầu... là những sinh hoạt dân gian vui nhộn, hồn nhiên, thể hiện tinh thần dân chủ trong lễ hội (Tả tơi như chơi hội), giờ đây đã biến thành việc cướp “lộc”, đả thương với nhau bằng tất cả sự bạo lực của nó bởi tính ích kỷ của con người hiện đại. Người ta sẵn sàng chen chúc, giẫm đạp lên nhau để tranh quả phết “may mắn” ở hội phết Hiền Quang (Tam Nông, Phú Thọ); rút gậy đánh nhau đến bị thương để cướp “lộc thánh” ở hội Gióng (Sóc Sơn, Hà Nội). Trò diễn ở làng vốn là những hình thức sinh hoạt văn hóa mang tính chất biểu diễn, tính nghệ thuật.

Lễ hội dân gian kết tinh trong nó những vẻ đẹp thuần phác của cha ông, hướng con người trở về cội nguồn, đề cao những giá trị đạo đức, cố kết cộng đồng, luôn vươn tới cái đẹp - cái đỉnh cao của thẩm mỹ thông qua những biểu tượng. Những giá trị văn hóa lễ hội được trao truyền và thực hành liên tục qua nhiều thế hệ, trở thành nếp.

Bên cạnh vai trò quản lý của nhà nước, mà dường như còn chưa có sự bắt gặp với giới nghiên cứu, thì việc giáo dục lễ hội cho quần chúng là rất quan trọng. Phải có hiểu biết đầy đủ về ý nghĩa, giá trị của từng lễ hội, có niềm tôn kính chung, sự say mê nhập cuộc chung. Ðó là nhu cầu nhập thân văn hóa để người tham dự không chỉ đóng vai trò thụ động mà còn là người sáng tạo văn hóa trong các lễ hội.

 

Nguyễn Thanh Lợi

 

 

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm