Thứ Ba, 02 Tháng Hai, 2021 10:35

Minh họa và biếm họa trên báo xuân miền Nam trước 1975

 

Báo Xuân là ấn phẩm đặc biệt và quan trọng nhất trong năm nên rất được các tòa soạn báo o bế kỹ lưỡng, từ nội dung đến hình thức. Bài vở trong báo Xuân có số lượng lớn, nhiều bài dài, thật sự là món quà văn nghệ, hồi tưởng, xả hơi và nhìn lại cuộc đời, nhìn lại quê hương, nhìn lại mình... Từ định hướng đó, thể loại truyện ngắn được dùng nhiều, các hồi ký, giai thoại, chuyện Tết trên miền thượng du, trong chiến tranh… khá phổ biến, chiếm nhiều trang. Bài dài thì đọc mệt mắt lại khó theo dõi, nên những bài viết dạng này thường có tranh minh họa, vừa để ngắt từng phần cho độc giả theo kịp, vừa giúp thư giãn nên minh họa thường đơn giản, nét lạ. Nhiều trang báo còn điểm xuyết thêm một vài tranh biếm họa với nội dung nhẹ nhàng để cười vui và cũng để lấp chỗ trống cuối trang khi bài đã hết. Minh họa và biếm họa là hai thể loại chủ lực để làm đẹp trang báo Xuân. Xin điểm một vài nét chấm phá về hai mảng này trên báo Xuân xưa.

 

 

* Minh họa quyết định sự thu hút của trang báo

Tranh biếm họa trên một số tờ báo không phải lúc nào cũng do họa sĩ trong nước vẽ, mà có khi tòa soạn lấy trên báo nước ngoài những tranh nổi tiếng và phù hợp. Nhưng minh họa theo bài đương nhiên chỉ được vẽ theo bài được chọn đăng, trừ một số ít tranh đứng đơn lập để tạo điểm nhấn. Do đó, minh họa được giới chủ báo đầu tư nhiều. Có những họa sĩ chỉ ăn lương cao để vẽ minh họa, phối hợp cùng với vài họa sĩ cộng tác viên vẽ tranh nhận tiền từng bức. Tranh minh họa hồi đó thường được bố trí như sau : vẽ chung quanh tựa bài và vẽ một hay hai bức theo nội dung bài. Lúc đầu, kích cỡ mỗi bức thường nhỏ, nhưng đến đầu thập niên 1960, giới chủ báo có trong tay nhiều họa sĩ vẽ đẹp, hợp thị hiếu độc giả, nên kích thước minh họa lớn dần.

Ðầu thập niên 1950, minh họa trên các tờ báo Xuân còn ít, nét vẽ vẫn sơ sài cho dù tác giả là họa sĩ nổi tiếng. Có lẽ do quan niệm về vai trò của loại tranh này. Các họa sĩ trường Mỹ thuật Ðông Dương như Mạnh Quỳnh, Hoàng Tích Chù, Tú Duyên thời gian này có tham gia vẽ minh họa trên Sài Gòn Mới số Xuân 1952, báo Mới số Xuân Quý Tỵ 1953... Khách quan mà nói, số tranh này không được chăm chút, ít chi tiết và không bắt mắt lắm.

Sau lứa họa sĩ có học hành bài bản nói trên, xuất hiện nhiều họa sĩ khác vẽ minh họa ngày càng sắc sảo, sinh động…, dù không xuất thân từ trường chính quy hay chỉ được đào tạo ở cấp trường Vẽ Gia Ðịnh, trường mỹ nghệ. Trong số này, báo Ánh Sáng năm Canh Dần 1950 có họa sĩ Bình Thành và Mai Hoàng Minh. Báo Tiếng Chuông 1951 có các họa sĩ Thế Chương, Hưng Hội, Nguyễn Văn Mười, Bình Thành. Họa sĩ Hưng Hội vẽ bìa báo Xuân từ lâu, năm 1944 cho Nam Kỳ tuần báo của Hồ Văn Trung (tức Hồ Biểu Chánh), và còn vẽ bìa nhạc cho nhà xuất bản Hương Mộc Lan. Sau này ông vẽ minh họa ngày càng lên tay, có nhiều bức rất đẹp. Ngoài ra còn có họa sĩ Phan Khánh vẽ cho tờ Buổi Sáng. Họa sĩ Diệp Ðình ảnh hưởng báo Pháp vẽ theo phong cách Tây, sẵn sàng chạy sô, ai kêu gì vẽ nấy. Và, nói đến lĩnh vực này không thể không kể đến một họa sĩ rất xông xáo là Lê Phan. Ông vẽ nhiều tranh minh họa đẹp, sinh động. Trên báo Ðiện Báo Xuân Canh Dần 1950, ông vừa vẽ biếm vừa minh họa hơn chục bức. Họa sĩ Hiếu Ðệ cũng là tay minh họa có tầm cỡ, riêng về biếm họa, ông đã đi rất xa, vẽ sinh động và ý tứ sâu sắc. Thỉnh thoảng cũng có tranh minh họa của họa sĩ Mai Hoàng Minh trên báo Lửa Sống Xuân Canh Dần. Họa sĩ Lê Trung - họa sĩ chuyên vẽ bìa - cũng tham gia minh họa nhưng không nhiều. Trên báo Sài Gòn Mới thời gian này thỉnh thoảng có tranh Lê Trung vẽ một bức đơn lập, được đóng khung trang trọng.

Giữa thập niên 1950, tranh minh họa trên báo Xuân ngày càng phong phú hơn. Nhiều bức minh họa đẹp như một bức tranh. Có thể xu hướng minh họa bằng tranh chăm chút kỹ trên các báo Pháp, Mỹ du nhập vào Sài Gòn đã tác động lên giới họa sĩ. Vẽ nhiều và đẹp vẫn là Hiếu Ðệ và Lê Phan. Báo Sài Gòn Mới Xuân 1955 có tranh minh họa của Hưng Hội, Lê Phan. Lê Phan vừa vẽ minh họa vừa vẽ biếm trên báo này, nhân vật nào cũng có mũi cao như Tây. Ðây là một tờ báo Xuân rất chú trọng đến minh họa bằng tranh hay ảnh. Có tới 21 tranh, 15 ảnh để minh họa cho bài vở; chưa kể vài tranh biếm họa. 

Cuối thập niên 1950, nhiều bức minh họa trên báo Tự Do của những người miền Bắc di cư vào mang tính mỹ thuật cao, trong đó có tranh của Ngọc Dũng và những bức không ký tên có thể của họa sĩ Phạm Tăng. Họa sĩ Ngân Hà - một họa sĩ gốc Bắc - cũng là người xuất hiện nét vẽ thường xuyên trên các báo giai đoạn này. Ðầu thập niên 1960, những bức minh họa mang sắc thái lạ và độc xuất hiện trên tạp chí Sáng Dội Miền Nam đã cuốn hút người đọc. Tác giả là họa sĩ Tạ Tỵ, từng học trường Mỹ thuật Ðông Dương và là họa sĩ tiên phong theo trường phái lập thể ở Việt Nam. Minh họa của ông đường nét đơn giản nhưng tính biểu hiện cao, hiện đại và sang trọng, phù hợp với thị hiếu của người có học. Tranh đã đẹp, lại được in màu càng đẹp.

Khoảng thời gian này, họa sĩ Lê Minh gốc ngay Gia Ðịnh, tốt nghiệp trường Mỹ nghệ thực hành Gia Ðịnh và nhanh chóng tạo nên dấu ấn trong làng minh họa. Ông vẽ rất nhiều, hình tượng nhân vật mướt mát với những cô gái đẹp mắt to, vóc dáng cân đối, ngực nở eo chít. Ðàn ông cao ráo, đẹp trai với mái tóc bồng. Tranh của Lê Minh tả nhân vật hao hao giống họa sĩ Lê Trung nhưng “bốc” hơn, diễn tả mạnh mẽ hơn và có thể thấy ông rất tỉ mỉ các chi tiết, từ mái tóc đến bàn tay, từ nếp gấp tà áo đến đôi bông tai. Lúc đó, giấy in báo dồi dào và có chất lượng tốt nên tranh của ông được in sắc sảo, còn thấy đẹp đến giờ. Khuynh hướng thể hiện của ông là tả thực, bắt mắt, phù hợp với thị hiếu thẩm mỹ của giới bình dân, nên các báo mang tính thương mại như Tiếng Chuông, Sài Gòn Mới, Phụ Nữ Diễn Ðàn, Phụ Nữ Ngày Mai rất chuộng, đã góp phần giúp các loại báo này bán chạy. Báo Phụ Nữ Ngày Mai năm 1960 có nhiều minh họa của họa sĩ Lê Minh và họa sĩ Hoàng Lương. Trên báo Xuân của Phụ Nữ Diễn Ðàn, Lê Minh chiếm tới 22 bức minh họa. Những người chủ trương đã phô diễn hết sự thu hút của ngòi bút Lê Minh khi chế bản tranh cỡ to, mỗi bức có khổ 12cm x 17cm. Có bức rất to, cao tới 27cm, đầy trang báo. Họa sĩ Lê Minh kéo dài thời kỳ vẽ minh họa rất huy hoàng cho đến năm 1963, khi báo Sài Gòn Mới bị đóng cửa. Sau đó, ông chuyển sang vẽ bìa sách, là công việc ban đầu khi ông còn học trường Mỹ nghệ thực hành Gia Ðịnh. Ông cũng thành công trên lãnh vực này, tạo dấu ấn khi với bìa truyện chưởng Kim Dung.

Năm 1969, có sự hồi sức mạnh mẽ trên báo xuân Sài Gòn với nhiều bài có nội dung hay, minh họa đẹp. Ðặc biệt năm này, tờ báo có nhiều minh họa đẹp nhất, mang tính mỹ thuật cao là giai phẩm Xuân Chính Luận. Rất tiếc là các bức minh họa trên báo này hoàn toàn không ký tên tác giả. Ðến giai đoạn đầu thập niên 1970 đến 1975, kinh tế càng lúc khó khăn, giấy báo lên giá, chiến cuộc gia tăng, công nhân nhà in, giới họa sĩ ra chiến trường ngày càng nhiều…, nên hình thức báo Xuân thời điểm đó xuống thấy rõ. Tranh minh họa trên báo vẽ ít hẳn đi. Ðiển hình như giai phẩm Xuân Công Luận năm Canh Tuất 1970 giấy xấu, minh họa cũng xấu. Báo Ngôn Luận Xuân Tân Hợi 1971 giấy đen xì, có vài minh họa bé xíu. Báo Hòa Bình in lem nhem, minh họa nhỏ như hộp diêm. Ðến báo Ðiện Tín Xuân Nhâm Dần 1974 thì không có bức minh họa nào cả, nhìn tờ báo toàn chữ là chữ.

Lần giở trên hai trăm tờ báo Xuân trong suốt hơn ba mươi năm trước 1975 để xem tranh minh họa trong đó, thấy có hiện tượng nhiều bức tranh không hề ghi tên tác giả nhưng lại có tên cơ sở làm… bản kẽm, như Cliché Dầu hay Cliché Trung. Ðiều đó cho thấy thể loại tranh minh họa trên báo chưa được coi trọng mà kỹ thuật in ấn, trong đó có kỹ thuật làm bản kẽm tranh ảnh để in trên báo mới là quan trọng. Nhưng nói gì thì nói, cùng với tranh phụ bản, tờ lịch tặng kèm, tranh minh họa là thứ mỹ thuật bình dân dành cho đại chúng, giúp phổ cập và nâng cấp sự cảm thụ mỹ thuật một cách giản dị. Người xem nhận ra kỹ thuật minh họa của các tài năng, những ảnh hưởng của họ từ tài liệu nước ngoài và ảnh hưởng lẫn nhau. Thể loại này với tính chất làm rõ hơn nội dung bài vở, càng giúp độc giả đương thời và cả những người đọc hôm nay hình dung ra cả một không gian đa chiều trong những câu chuyện đậm đà hương vị đời, của cuộc sống càng lùi về quá khứ xa.

 

* Cười để vui tiễn một năm đi qua

Tranh biếm họa trên các giai phẩm Xuân chỉ là một dòng rất hẹp khi bàn về thể loại biếm họa trên báo chí Sài Gòn các thập niên 1950,1960, 1970. Tuy nhiên, tần suất xuất hiện tranh biếm trên báo Xuân tương đối nhiều hơn và có vài đặc điểm riêng biệt.

Trước hết, loại tranh này chủ yếu tập trung vào mục đích giải trí, cung cấp những giây phút hài hước khiến người đọc cảm thấy vui vẻ trong ngày Xuân, khi giở tờ báo đặc biệt mỗi năm ra một lần. Các biếm họa liên quan đến thời sự xã hội, chuyện chính trị, đả kích cũng có xuất hiện trên ấn phẩm Xuân nhưng không nhiều, vì đã thường xuất hiện trên báo ngày. Giống như nội dung báo Xuân dồi dào tính văn nghệ, đọc để thư giãn, hồi tưởng và vui vẻ, tranh biếm họa cũng chú ý vào mục đích này. Tranh biếm họa trên báo Xuân rải rác từ đầu đến cuối số báo. Một số giai phẩm dành cả trang hoặc có khi hai trang, vẽ một chùm tranh với nhiều nhân vật, chuyện trò qua lại với nhau, bàn đủ mọi vấn đề đang diễn ra trong năm qua hay vừa mới xuất hiện, từ chuyện kiếm sống, quan hệ xã hội đến chuyện đại sự, có khi xảy ra đâu đâu bên kia bán cầu...

Từ khoảng thập niên 1950, tranh biếm trên báo Xuân xuất hiện nhiều thêm, với sự tham gia của vài họa sĩ xuất thân từ trường Mỹ thuật Ðông Dương và Mỹ nghệ thực hành Gia Ðịnh. Tranh biếm họa thời gian này chủ yếu cười cợt, chế giễu những tính cách lôi thôi, sĩ diện hão, thói hư tật xấu của con người hay cách sống phi đạo đức trong hôn nhân, trong đối nhân xử thế, trong quan hệ giữa con người với nhau. Thời gian đầu thập niên 1950, vẫn còn dư âm của thời làm giai phẩm Xuân hồi trước 1945, với sự xuất hiện của hai nhân vật Xã Xệ và Lý Toét (xuất hiện trên báo Ðiện Báo Xuân Canh Dần 1950 hay báo Tiếng Chuông Xuân Tân Mão 1951), được xem là hai nhân vật “siêu sao” của biếm họa Việt Nam thời Pháp thuộc trên báo Phong HóaNgày Nay của nhóm Tự Lực Văn Ðoàn ngoài Bắc. Vẫn là Lý Toét cao gầy, tóc búi, đầu đội khăn, mặt mày khắc khổ, gò má cao, râu mép tua tủa. Xã Xệ vẫn mập lùn, mặt tròn quay, tóc có mỗi một cọng xoắn lò xo... Lý Toét lúc được gọi là cụ Lý, lúc dùng lại tên Lý Toét. Tuy nhiên, sức hút của hai hình tượng này không mạnh nữa và có lẽ không hợp với xã hội miền Nam, nên sau đó dần mất hẳn khoảng cuối thập niên 1950.

Ðến giữa thập niên 1960, tranh mạnh mẽ hơn, phê phán thái độ coi trọng đồng tiền, đạo đức suy đồi, đặc biệt phê phán giới thương gia đầu cơ tích trữ cùng người có chức quyền ăn hối lộ, tham nhũng. Dù vậy, những tranh biếm trên báo Xuân thể hiện ý tưởng không quá gay gắt và chua cay, giễu cợt nhẹ nhàng chứ không mạnh mẽ và trực diện như tranh biếm họa chính trị trên báo ngày... Xuyên suốt trong tranh biếm trên báo Xuân, hình ảnh người nghèo xuất hiện thường xuyên, vì họ là nạn nhân của mọi bất công hay khó khăn. Các họa sĩ, phía sau là tòa báo, đứng hẳn về phía người dân bình thường là độc giả chính của họ. Còn giai đoạn nửa đầu thập niên 1970, những biến động xã hội như đồng tiền mất giá, đàn áp biểu tình, chiến tranh lan rộng được phản ánh nhiều trên tranh biếm họa.

 

Ðiểm qua một số tranh biếm trên báo Xuân để thấy những ý hướng và công phu thể hiện của các họa sĩ :

Bộ tranh “Văn nghệ sĩ” trên báo Ánh Sáng Xuân Tân Mão 1951 của Hoàng Lập Ngôn cho thấy một góc nhìn duyên dáng của làng báo Sài Gòn trong bối cảnh lịch sử ngổn ngang thời bấy giờ. Hai mươi chân dung nghệ sĩ nổi tiếng của Hà Nội được phác họa khá dí dỏm và cường điệu đúng tinh thần của chân dung biếm, có thêm lời bình của tác giả người Hà Nội vốn là bạn bè thân thiết hay có mối quan hệ quen biết với các nhân vật, giúp người đọc Sài Gòn có cái nhìn bao quát về văn đàn Việt trước khi đất nước bị chia cắt.

Bộ tranh khá hài hước nhưng chừng mực “Tết các giới” trên giai phẩm Tiếng Chuông Tết Ất Mùi 1955 của họa sĩ Hiếu Ðệ phản ánh những mặt trái của xã hội một cách nhẹ nhàng nhưng cũng là “u nhọt” của một góc xã hội lúc ấy. Trong đó, tranh “Tết dưới gầm cầu” và một số tranh khác mô tả cái Tết bình dị của người lao động. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, những tranh này vẫn giữ nguyên tính thời sự.

Các tranh biếm họa Tết 1957 Ðinh Dậu, 1960 Canh Tý, 1964 Giáp Thìn khá hài hước về lãnh vực giáo dục. Lúc nào cũng vậy, vai trò người thầy và mục đích giáo dục có lẽ là mối quan tâm thường trực của người dân.

Tranh Tết 1961 Tân Sửu một lần nữa nhắc lại căn tính quan liêu của viên chức Việt “làm chơi ăn thiệt”, có lẽ đây là yếu tố chính ảnh hưởng tới sự phát triển của người Việt và làm bận lòng khá nhiều cây cọ biếm. Tranh Tết 1962 Nhâm Dần khá phong phú, nói về những câu chuyện thường ngày của phụ nữ và tật xấu của người Việt, cụ thể là “bệnh di căn” : Nhậu !

Tranh biếm trên báo Xuân ở giai đoạn này cũng xoay quanh những chuyện hài hước ngày Tết, ít nhiều cho người đọc cảm nhận được không khí Tết tiêu biểu của dân Sài Gòn - Gia Ðịnh từ thương gia cho tới người lao động chạy ăn từng bữa một.

Tranh biếm đầu thập niên 1970 đến Tết 1975 mang đến cho người đọc một cảm giác bất an, chỉ dấu rõ nét của chiến tranh và tình trạng xã hội, những vòng rào thép gai trên đường phố và người thành thị lẫn nông thôn oằn lưng với lạm phát phi mã có giá trị hơn ngàn lời nói về một cái Tết âu lo, dằn vặt. Lúc đó, biếm họa chính trị xuất hiện nhiều hơn trên báo Xuân với hai “đại gia” làng biếm họa Sài Gòn là họa sĩ Chóe (Nguyễn Hải Chí) và họa sĩ Ớt (Huỳnh Bá Thành). Trên Báo Ðại Dân Tộc 1973, họa sĩ Chóe và Kit vừa vẽ biếm họa vừa vẽ minh họa và làm cả thơ lục bát nữa. Họa sĩ Chóe khi vẽ minh họa ký tên thật là Nguyễn Hải Chí, nhẹ nhàng, không đầu tư nhiều nên không sắc sảo như lúc là Chóe vẽ biếm. Trên báo này xuất hiện chùm tranh “Gia đình ông Ký Râu” của họa sĩ Ðan Chi. Ký Râu là một nhân vật xuất hiện thường xuyên, là một người đàn ông gầy, có ria mép, xoay quanh ông là các nhân vật trong gia đình với đủ chuyện hỉ nộ ái ố.

Ngoài hai nhân vật trên, cũng phải nhắc lại vài họa sĩ khác như Lê Phan, Hưng Hội và Hiếu Ðệ, vẽ minh họa và biếm họa đều đẹp. Họa sĩ Hĩm năm 1954 từ Bắc vào Nam với những bức tranh hí họa độc đáo có một không hai trên các báo Chính Luận, Ðộc Lập, Tiếng Vang... Họa sĩ Văn Hiếu vẽ trên tờ Ngôn Luận với hai nhân vật bé Ngôn, bé Luận. Họa sĩ Ngân Hà vẽ biếm nhẹ nhàng và có duyên. Họa sĩ Ngọc Dũng vẽ trên báo Chính Luận có chiều sâu, ký tên Tuýt. Cũng có những bút danh chúng tôi không có điều kiện tìm hiểu về tác giả như Tám Bờm (Gia đình Năm Trật Búa), Cả Tếu, Hòa Thanh, Ðức Khánh v.v...

 

Một bài viết trên báo Tia Sáng có nêu : “Biếm họa không thể thay đổi được thế giới, nhưng biếm họa có thể mang đến cho chúng ta tiếng cười trí tuệ, tiếng cười mà con người cần có để tự hoàn thiện chính mình”. Hơn thế nữa, khi sống trong một xã hội đầy biến động, những bức tranh biếm họa một thời ít nhiều mang đến nhận thức cho người xem về hiện tình cuộc sống, về những điều cần hoàn thiện ở mỗi người, về nguyên do những khó khăn mình đang gánh chịu, và cả những thói xấu mình đang có... Cũng có khi, nó chỉ mang mỗi tiếng cười, để tiễn đưa năm cũ bộn bề lo toan và bước vào năm mới đầy hy vọng.

 

Phạm Công Luận

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm