Thứ Ba, 01 Tháng Hai, 2022 16:00

Năm cọp xem tranh thiền vẽ cọp

 

Năm 2022 theo âm lịch là Nhâm Dần, tức là năm cọp. Vậy, nhân năm cọp, chúng ta cùng xem lại một bức tranh thủy mặc vẽ năm 963 (đời Tống, Trung Hoa).

 

1. Ở góc trái phía trên bức tranh là con triện vuông màu đỏ, khắc bốn chữ 德壽殿寶 Ðức Thọ Ðiện bảo (vật báu Ðiện Ðức Thọ).

Ðời Tống có Cung Ðức Thọ ở Hàng Châu, bên trong có hơn mười điện: Ðức Thọ Ðiện 德壽殿, Hậu Ðiện 後殿, Linh Chi Ðiện 靈芝殿, Xạ Sảnh 射廳, Tẩm Ðiện 寢殿, Thực Ðiện 食殿, v.v…

2. Con triện vuông đè lên bốn chữ 損齋寶玩 Tổn Trai bảo ngoạn (vật báu cung Tổn Trai).

Ðược vua Tống Cao Tông cho xây năm 1158 (năm Thiệu Hưng 紹興 thứ hai mươi tám), Tổn Trai là thư viện chứa sách cổ trong hoàng cung đời Tống, là nơi vua đọc sách, nghỉ ngơi.

Tranh "Nhị Tổ điều tâm" 

 

3. Dưới con triện hình hồ lô là hai con triện vuông nhỏ: triện bên trên ghi chữ Thiệu 紹; triện bên dưới ghi chữ Hưng 興.

4. Lạc khoản ghi hai dòng:

a/ 乾德改元八月八日西蜀石恪寫 Càn Ðức cải nguyên bát nguyệt bát nhật Tây Thục Thạch Khác tả. (Thạch Khác vẽ tại Tây Thục ngày 8 tháng 8 năm Càn Ðức cải nguyên). Dòng này cho biết các chi tiết như sau:

Tác giả tranh là Thạch Khác 石恪 (không rõ năm sinh và năm mất).

Tây Thục ngày nay ở miền Tây tỉnh Tứ Xuyên.

“Càn Ðức cải nguyên” tương ứng với năm 963 Công Nguyên, đời vua Tống Thái Tổ (tên thật là Triệu Khuông Dận 趙匡胤, người Việt quen gọi là Triệu Khuông Dẫn).

Trong thời gian làm vua (960 - 976), ông Triệu Khuông Dận khai sáng nhà Tống có ba lần đặt niên hiệu 年號. Từ năm 960 đến tháng 11-963 gọi là Kiến Long; do đó, năm đầu tiên (960) gọi là “Kiến Long nguyên niên” 建隆元年. Từ tháng 12-963 đến tháng 11-968 gọi là Càn Ðức; do đó, năm đầu tiên thay đổi niên hiệu (963) gọi là “Càn Ðức cải nguyên” 乾德改元. Từ tháng 12-968 tới tháng 11-976 lại đổi niên hiệu là Khai Bảo 開寶.

b/ 二祖調心圖 Nhị Tổ điều tâm đồ. (Tranh Nhị Tổ điều tâm.)

Nhị Tổ là thiền sư Huệ Khả 慧可 (487-593). Ngài là học trò thiền sư Bồ Ðề Ðạt Ma 菩提達磨 (Bodhidharma), gọi tắt Ðạt Ma.

Sinh ở Ấn Ðộ khoảng năm 470 và quy thiên ở Trung Hoa năm 543, Ðạt Ma là tổ thứ hai mươi tám của Thiền Tông Ấn Ðộ. Khi sang Trung Hoa năm 520 (đời Lương Võ Ðế), ngài Ðạt Ma là Sơ Tổ Thiền Tông Trung Hoa.

Ngài Huệ Khả tên thật là Cơ Quang 姬光, hiệu là Thần Quang 神光. Theo truyền thuyết, năm bốn mươi tuổi sư đến chùa Thiếu Lâm xin yết kiến Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma hỏi đạo; thế nhưng, Tổ lại lạnh nhạt không thèm tiếp, cứ để mặc cho sư đứng mãi ngoài trời, hai chân ngập sâu trong lớp tuyết dày lạnh lẽo. Sau cùng, để chứng minh lòng thành cầu đạo, xem thường sống chết, sư Thần Quang tự chặt cánh tay trái dâng lên Tổ. Thế là sư được Tổ thâu nhận làm môn đệ. Sau sáu năm tu luyện, sư đắc đạo và kế tục Sơ Tổ Ðạt Ma làm Nhị Tổ Thiền Tông Trung Hoa. Dựa theo sự tích ly kỳ này, năm 1496, họa sư Nhật là Sesshū Tōyō (Tuyết Chu Ðẳng Dương 雪舟等楊, 1420-1506) vẽ bức tranh “Huệ Khả chặt tay” (Huệ Khả đoạn tý 慧可臂斷). Ngày nay danh họa này là báu vật quốc gia Nhật Bản.

 

Tranh "Huệ Khả đoạn ty"

 

Trở lại bức danh họa của Thạch Khác.

Nói “Nhị Tổ điều tâm”, thì điều tâm là “điều nhiếp tâm tánh” 調攝心性 (sửa chữa, chỉnh đốn tâm tánh của mình). Ðối với người tu hành thì điều tâm rất quan trọng, cũng là luyện kỷ (sửa chữa tánh nết bản thân) mà đạo Cao Ðài coi là Công Trình (kết hợp với Công Quả và Công Phu thành pháp môn Tam Công).

Nhưng chủ đề tranh là “điều tâm”, mà cớ sao Thạch Khác lại vẽ hình cọp, một loài thú dữ? Phải chăng con cọp tượng trưng ý gì sâu kín trong đạo học phương Ðông?

Trong đời tu hành, khó nhứt là giữ cho mình thoát khỏi dâm dục. Hễ còn dâm thì tu luyện không thành, danh đạo hư mất. Thậm chí, việc dâm chưa làm, thân xác chưa đụng chạm, chỉ cần trong lòng phát khởi lên ý dâm thì cũng đủ hỏng bét rồi, là đã phạm tội dâm rồi. Bởi vậy, Chúa Giêsu răn dạy môn đệ: “Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi.” (Mátthêu 5,28)

Ðối với người đàn ông tu luyện, thành ngữ “sát bạch hổ” 殺白虎 (giết cọp trắng) là ẩn dụ cho việc chế ngự dâm dục. Cọp (hổ) được các Ðạo gia ví là thận. Thận sinh ra tinh (trắng đục), cho nên nói “bạch hổ” là ám chỉ tinh (sperm) ở đàn ông. “Sát bạch hổ” là không cho xuất tinh, giữ gìn tinh để bảo tồn tam bửu (tinh khí thần) mà luyện đạo. Ðạo gia bảo: Thân chẳng động thì “hổ khiếu” 虎嘯 (cọp gầm rống); “hổ khiếu” thì tinh ngưng.

Người đàn ông tu hành chưa chế ngự được lòng dâm dục thì sự ham muốn ấy được Ðạo gia ví như cọp dữ giết hại đời tu hành. Con cọp trong tranh Thạch Khác thì lại ngoan hiền, chẳng khác nào con mèo lớn xác, chịu nằm yên cho ngài Huệ Khả tựa mình lên lưng nó nghỉ ngơi. Người và cọp mà gần gũi đến thế bởi vì con cọp trong lòng sư Huệ Khả đã được thuần hóa rồi; tức là cái tâm của ngài không còn “lộn xộn” vì ham muốn sắc dục như phần đông phàm phu thế tục. Những ai thuần hóa được cọp như ngài Huệ Khả ắt họ sẽ không khiến cho Thánh tông đồ Phaolô phải mất công viết thư khuyên nhủ: “Ðàn ông không gần đàn bà là điều tốt. Nhưng để tránh hiểm họa dâm ô, thì mỗi người hãy có vợ có chồng.” (1 Côrintô 7,1)

Tóm lại, tranh “Nhị Tổ Ðiều Tâm” của Thạch Khác cũng là tranh “phục hổ”, nằm trong số những tranh cổ kiệt tác mang chủ đề Thiền Tông phương Ðông. Ngày nay danh họa này là tài sản quý báu của Viện Bảo Tàng Quốc Gia Nhật tại Ðông Kinh (National Museum, Tokyo).

 

LÊ ANH MINH

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm