Thứ Sáu, 01 Tháng Chín, 2017 15:58

NHỮNG CÂU CHUYỆN XUNG QUANH HANG MASSABIELLE - LỘ ĐỨC (P62)

BÌNH AN và NHÂN ÁI

Trên ngôi mộ của tu sĩ Jacques Balduina

Ngày 12 tháng 02 năm 1973

Vào lúc sáng sớm, hai người phụ nữ vất vả đi giữa các lối nhỏ phủ đầy tuyết trong nghĩa trang dành cho những người nước ngoài ở Lộ Đức. Nơi hoang vắng này, nơi chôn cất những khách hành hương đến từ nhiều nơi trên thế giới, họ nằm đây cô độc, xa gia đình, xa quê hương yêu dấu của mình.

- Fernande, chị muốn hai chị em mình phải tìm cho ra ngôi mộ của cha dòng Phanxicô trong lúc tuyết rơi dày đặc như thế này sao ? Người phụ nữ mảnh khảnh vừa càu nhàu vừa run lập cập.

- Sylvie, đừng lo. Bọn mình không thể bỏ qua được.

Fernande là người thường hay đi viếng nghĩa trang này. Làm người dọn phòng ở khách sạn Grand Hôtel d’Angleterre ở Lộ Đức, bà đồng hành với bà bạn Sylvie, đến từ Paris, đang rất lo âu về sức khỏe cô con gái sa sút trầm trọng sau nhiều lần sẩy thai. Fernande đề nghị bà đến Lộ Đức nghỉ ngơi vài ngày, nhưng bà cũng có một ý tưởng nho nhỏ trong đầu… Chiều hôm qua, bà đi đón Sylvie ở ga, và sau bữa ăn tối thịnh soạn, bà nói với bà bạn của mình về một ngôi mộ không giống như những ngôi mộ khác, ngôi mộ của một tu sĩ dòng Phanxicô người Ý, chết cách đây 25 năm, nhưng là người được ơn nghe những lời cầu nguyện và nhận những lời cầu khẩn. Sylvie là một người có lòng tin, nhưng các phép lạ… thật ra, bà không tin lắm. Tuy nhiên, sáng hôm nay bà đồng ý đi theo bà bạn của mình.

Khi đến giữa nghĩa trang, Fernande hét to lên :

- Kia kìa ! Có một người nào đó đã đi đến trước chúng ta và đã quét tuyết rồi.

Quả thật, xa hơn một chút trong lối đi nhỏ, Sylvie thấy một vệt màu. Nhiều bó hoa ! Bà tiến đến gần. Ngôi mộ đơn sơ nhưng đầy hoa. Xung quanh có nhiều miếng cẩm thạch vuông vức ghi rõ 5 mẫu tự nhỏ dọc theo chiều dài : “Cám ơn”, “Cám ơn”, “Merci”… Bà không tin vào mắt của mình nữa.

- Đừng đếm nữa, Fernande cắt ngang, phải có đến cả trăm tấm như vậy !

Sylvie nghiêng mình đọc trên bia mộ một câu ngạn ngữ Latin : Pax et bonum (Bình an và Nhân ái), rồi ở phía trên : Cha Jacques de Balduina, 1900 - 1948. Khi ngẩng đầu lên, gương mặt của bà không tỏ vẻ căng thẳng hay chán nản nữa, mà là ngạc nhiên tột độ.

- Người này là ai vậy ? Bà Sylvie hỏi bà bạn của mình.

- Ồ ! Đây là một câu chuyện dài!

Benjamin Filon sinh ngày 12 tháng 8 năm 1900 ở Balduina, phía nam thành phố Padova. Đó là một đứa trẻ kiên nhẫn, hiền lành, lúc nào cũng sẵn lòng giúp đỡ người khác. Thích chiêm niệm, và ít nói. Em thích ngồi nhiều giờ để cầu nguyện trong một nhà nguyện hơn là chơi đùa với các bạn. Học hành kém cỏi, bị bạn bè khinh bỉ và bắt nạt, em thường ra về với đầu, cổ, mặt mày bầm tím, nhưng không hề than vãn. Đứa trẻ này kỳ lạ quá chừng ! Ai ban cho em sự bình an, lòng tốt, vẻ hạnh phúc trong mọi nơi mọi lúc như vậy ? Bình an và nhân ái, Pax et bonum … Đó là châm ngôn của Anh Em Hèn Mọn Phanxicô, các tu sĩ khất thực có một tu viện trong ngôi làng em đang học. Em thường thấy các tu sĩ trên các con đường làng, mặc áo màu hạt dẻ với dây thắt lưng màu trắng, đi chân không bất kể mùa nào, để ăn xin và chăm sóc người nghèo.

Từ lúc 15 tuổi, Benjamin đã muốn trở thành tu sĩ. Thế giới đại chiến lần thứ nhất khiến đương sự phải tạm thời chuyển hướng : được gọi với tư cách là tân binh, làm thủ kho và đồng thời là thủ thư trong một trang trại quân đội ở Milanô. Khi giải ngũ vào năm 1922, Benjamin lập tức xin vào tu viện Bassano del Grappa, trong đó em lấy tên thánh của người cha, trở nên thầy Jacques Balduina. Tuy nhiên, thầy trưởng tập viện là một người nghi ngờ tất cả : một năm sau, ngày mà Jacques khấn lần đầu, thầy tâm sự với mẹ của mình : Mẹ thân mến, con trai của mẹ xem ra rất bối rối, vì nó chẳng biết làm gì cả ngoài cầu nguyện. Jacques không nản lòng và điềm tĩnh chịu đựng những lời khiển trách và huấn nhục. Năm sau, thầy đi đến trường trung học của Đền Thánh Đức Mẹ Olmo, ở Thiene, để bắt đầu học thần học. Và tại đó, mọi người đều kinh ngạc vì thầy học rất giỏi và rất thông minh. Thầy Jacques tiến một bước rất dài trên con đường tiến tới chức linh mục.

Phần mộ đáng kinh Balduima ở Lộ Đức

Fernande ngừng nói một lúc. Vài cụm tuyết nhẹ nhàng rơi xuống từ trời và giọng nói của bà lại vang lên, nghiêm trọng hơn :

Vào năm 1927, một bóng đen bao trùm đời sống của Jacques, thầy cảm thấy đi lại thật khó khăn… Việc khám bệnh cho kết quả : thầy bị bệnh Parkinson (liệt run). Đau đớn nhiều, nhưng thầy vẫn tiếp tục học, khiến các giáo sư thán phục. Nhờ sự nâng đỡ của các vị, thầy chịu chức linh mục ngày 21 tháng 7 năm 1929. Được Bề Trên sai đến Udine, ngài giữ một vai trò khiêm tốn là làm cha giải tội.

Ngồi tòa giải tội gần 20 năm, ngài thi hành sứ vụ một cách âm thầm, luôn kiên trì lắng nghe những gì các hối nhân đã tin tưởng xưng thú với ngài, và ngài dùng những lời đầy thương xót để khuyên nhủ, an ủi, động viên họ và tha thứ cho họ. Chẳng bao lâu danh tiếng của ngài lan ra khắp vùng : tất cả mọi người đến gặp ngài, nông dân, phụ nữ, và rất nhiều linh mục nữa. Ngài biết cách làm cho các hối nhân bớt lo âu, nói vài lời họ cần nghe. Ngài can đảm đối diện với bệnh tật : không một lời than vãn, ngài bất chấp đau đớn mỗi ngày để chu toàn bổn phận của mình.

Cảm nhận giờ sau hết đã gần kề, ngài muốn đi đến Lộ Đức để kính viếng Đức Trinh Nữ Maria. Các bác sĩ đều phản đối cuộc hành trình này, nhưng ngài nhất quyết ra đi. Khởi hành từ Udine ngày 19 tháng 7 năm 1948 trên chuyến xe lửa “màu tím” của bệnh nhân hành hương, ngài đến Lộ Đức ngày 21 tháng 7, sau cuộc hành trình dài 35 giờ. Kiệt sức, nằm dài trên băng ca, ngài đề nghị được đưa ngay đến Hang Đá. Tuy nhiên, các bác sĩ không đồng ý. Được chuyển đến bệnh viện, ngài trút hơi thở vào lúc 11 giờ đêm, khi đang hát khẽ bài Magnificat (linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa), sau 19 năm miệt mài ngồi tòa giải tội, khi chưa kịp ra Hang Đá dâng lời tạ ơn Đức Mẹ Lộ Đức mà ngài ước mong cả cuộc đời linh mục của mình. Ngài được an táng hai ngày sau tại nghĩa trang ở Lộ Đức.

Và kể từ đó, tất cả mọi người đều ngạc nhiên vì chỉ có mộ của ngài lúc nào cũng đầy các bó hoa. Các tín hữu đổ về đây từ khắp nơi trên thế giới để được ngài an ủi và nâng đỡ trong cuộc sống hiện tại. Các bảng tạ ơn phủ đầy ngôi mộ của ngài chứng tỏ ngài chuyển cầu hữu hiệu biết bao. Ngày nay, người ta gọi ngài là “cha Thánh”; mộ của ngài là nơi hành hương âm thầm nhưng liên tục. Các tu sĩ dòng Phanxicô ở Vénétie căng thẳng vì quá tải do có quá nhiều người gởi thư đến xin tiểu sử, di tích và câu chuyện về các ơn của cha Jacques Balduina.

Vào buổi sáng tháng 02 năm 1973 này, một bó hoa mới trang hoàng ngôi mộ của vị tu sĩ : một lời cầu nguyện mới được chuyển đến ngài, lời khẩn cầu của một phụ nữ đến từ Paris, chưa bao giờ nghe nói về ngài, nhưng chính nơi ngài, bà đặt trọn niềm hy vọng. Như thể, từ miệng cho đến lỗ tai, vị tu sĩ dòng Phanxicô khiêm tốn, đi chân trần tiếp tục nâng đỡ mọi người cần đến ngài.

Amen.

Lm INHAXIÔ HỒ VĂN XUÂN

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm