Thứ Năm, 28 Tháng Tư, 2022 16:07

“Ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông...”

 

Hai mươi năm trước, câu hát trên đã đúng. Và bây giờ, câu hát trên vẫn đúng. Trời Pleiku vẫn luôn như thế, mùa đông một cách hào phóng vào những buổi chiều tà. Khéo khen câu thơ viết vào năm 1970 mà lại đúng một cách bền vững như vậy.

 

Những chiều, trong tiếng chuông giáo đường, ta đi ngược một con dốc Pleiku và câu hát Phạm Duy phổ thơ Vũ Hữu Ðịnh sẽ tự vang lên trong tâm hồn...


Quán vỉa hè

Hai mươi năm trước, đường phố về chiều hãy còn hiu hắt, có anh khách lạ thả bước đi lên đi xuống tìm một quán thịt nướng vỉa hè. Hai mươi năm trước, cô gái bây giờ là nhà thơ mới chỉ làm thơ, viết truyện đăng báo Công giáo và Dân tộc. Cô đến chốn hẹn ở quán thịt nướng với vẻ e ấp của gái phố núi (quả thật, nghĩ lại thì chỗ hẹn chẳng lãng mạn gì mấy!). Cô nói rằng mình sắp lấy chồng (tội nghiệp anh khách lạ cất công đi đi lên xuống chẳng để làm gì!). Quán thịt nướng khói bay mù trời, khói lẫn trong sương và mây của thuở ấy. Không biết khói thịt nướng buồn hay mây xứ sở buồn mà anh khách lạ thấy sóng mắt cay cay. Câu chuyện đong đưa chẳng để lại gì sâu sắc trong ký ức ngoài một quạnh hiu bàng bạc thoảng qua.

Chuyện vỉa hè đó hẳn đã đủ nhập đề cho một Pleiku thoạt đầu nên thơ nhưng có cái kết đỉnh cao của sự... lãng xẹt. Nhưng chưa. Một cái kết “có hậu” của một miền đất dành cho gã khách lạ thì phải đợi đến mười mấy năm sau. Ðó là khi anh ta “đi đên đi xuống” để lo một đám cưới mà chú rể là chính mình. Pleiku vẫn những vỉa hè thịt nướng, rượu mạnh và thêm những buổi sáng cà phê mây sà lãng đãng như trêu ngươi anh khách lạ đã là chàng rể của đất này.

Cảnh vẫn vậy, như vẫn còn giữ vẻ cố hữu của một miền phong thổ tâm tính thơ ngây. Cái thơ ngây của những người bước chân đi đầu chạm mây trời. Cái thơ ngây của phố thị dốc đồi và rẫy nương xanh mát, lên bổng xuống trầm. Xưa đã vậy và nay cũng cứ vậy.

Ta nhận ra cái thơ ngây trong ánh mắt của những người đàn bà gùi khổ qua, bắp cải, bí bầu từ các ngôi làng sơn cước đủng đỉnh đi ra phố. Chân họ nứt nẻ trong những khuôn dép nhựa đỏ màu bụi đất. Mắt họ như gom vào một bầu trời của những vòm rừng và phong cảnh cố thổ mà ta đọc đâu đó trong các bản văn điền dã, nhật ký của cha Ðuốc (Jacques Dournes). Họ bước ra với người khác bằng đôi chân đầy vết nứt và bằng lòng chân thành. Họ đã băng qua những mù sương của khác biệt.

Anh khách lạ gặp một Pleiku trong thực tại, với thi tính từ những ánh mắt giữ ánh lửa rừng ngây thơ, những bàn chân nứt nẻ nương đồng bước đi trên đường nhựa của phố thị buổi đổi thay, những cuộc mưu sinh không chỉ mưu sinh mà còn kiếm tìm tương tác với tha nhân nơi phố thị.


Người cũ, đồi xưa...

Anh khách lạ lại nhớ về những ngày sương của hai mươi năm trước.

Trước mắt anh là một ngọn đồi với hàng ngàn ngôi mộ nhỏ bé, nơi yên nghỉ của các thiên thần nhỏ bị loài người bỏ rơi. Ngày đó, vị cha xứ đã kể những câu chuyện ám ảnh khi ngài đi xin về những bào thai bị truất hữu quyền được làm người, mang về lo cho những chỗ nằm tươm tất. Cách kể của ngài khiến khách lạ nghĩ rằng ngài có thể đối thoại với cách linh hồn thai nhi một cách dễ dàng; hằng ngày có thể ủi an các thiên thần ấy như một người cha giàu tình yêu thương vuốt ve chữa lành những tổn thương cho những đứa con nhỏ. Ánh mắt của ngài gieo vào khách lạ một niềm tin mãnh liệt rằng, chỉ bằng cách ấy mới đền thay được những tội lỗi mà con người gây ra với chính giọt máu của mình.

Ở một góc nhà thờ nằm dưới tán những cổ thụ, ngài quỳ cúi đầu bên tượng Ðức Mẹ trước giờ lễ trong một buổi chiều nhiều sương. Hình ảnh ấy đọng lại một Pleiku đẹp một cách thiêng liêng và gần gũi.

Hai mươi năm sau, trong một căn phòng nhỏ của nhà xứ, ngài vẫn quỳ như vậy, dù dáng vai đã gầy và xiêu đi nhiều. Câu chuyện của ngài trong thánh lễ vẫn lấy chủ đề, nguồn cảm hứng từ các con chiên hoang dã và những việc mà ngài đang làm với họ, cho họ. Những câu chuyện khiến người nghe cười nghiêng ngửa đó rồi rơi nước mắt rớt lã chã đó. Chuyện những giếng nước sạch, cây cầu đang xây dở, chuyện con đường trải nhựa đi vào những xóm nghèo vùng cao… luôn đi cùng với những giai thoại tiếu lâm ngây thơ kiểu đồng bào. Ðôi khi trong bài chia sẻ lời Chúa, cha xứ giả giọng đồng bào, truyền đến đàn chiên cách nghĩ, lối tư duy của những anh em cần được hiểu để mà yêu.

Cha là một minh chứng cho thấy dòng chảy của truyền thống thừa sai dấn thân. Lứa học trò gọi ngài là bố hai mươi năm trước, chúng từng chen chúc chia nhau những căn phòng ở trong khuôn viên nhà xứ để có cơm ăn, được học cái nghề, cái chữ… nay đã tuổi hăm, tuổi băm, vào đời vững chãi. Hoa trái nở trong đời cùng niềm tin. Thực và đạo song hành.

Ngài vẫn tay này lo cho các thiên thần bị bỏ rơi, tay kia lo cho các thiên thần nghèo khó để chấp cánh bay vào đời. Ngài nhìn thấy những vết chai sần, nứt nẻ trên bàn tay con chiên khi xòe ra rước Chúa nên những câu chuyện được kể không hề xa lạ. Chúng được trích ra từ một đời sống quá đỗi phong phú, yêu thương.

Sau thánh lễ, khách lạ bảo vợ con nán lại, chào ngài một tiếng, dù biết hai mươi năm trước làm khách của nhà xứ trong vai một phóng viên cho tòa báo, chắc ngài không nhớ nổi đâu. Ngài dù không nhớ thật, nhưng vẫn kéo ông khách vào thư phòng và tặng một bộ sách truyền giáo của Giáo phận Kontum. Ngài nói, nguồn cảm hứng của ngài là ở đây, từ hành trình của những vị tiền bối. Và mình chỉ bước trên những lối đã mở của các ngài mà thôi.

Nhưng, rừng nay đã chết, người nay đã khác, câu chuyện mang Tin Mừng lên núi bây giờ không có những trở lực cũ, cuộc sống lại đặt ra những trở lực mới lớn lao hơn.

Hiểu con người qua những hệ quy chiếu văn hóa khác nhau là điều khó khăn nhất trên đời. Nhớ năm xưa, khi đến thực thi sứ mệnh rao giảng Tin Mừng ở làng Cheoreo, cha Ðuốc viết đại ý rằng, phải là người Jrai để thấy như người Jrai thấy (trong cuốn Thiên Chúa yêu thương muôn dân). Tinh thần hiệp hành cũng từ đó, được làm gương từ các mục tử. Thì chẳng phải sao, đọc lại Kinh Thánh, sẽ thấy Chúa luôn bênh vực, đứng về phía những dân ngoại. Ngài luôn tìm cách viết hoa danh phận của họ trong cuộc đời.


Ði lên đi xuống

Cô nhà thơ đi đón con ở một trường cấp hai rồi ghé qua chỗ hẹn là một quán cà phê vỉa hè. Từ đây nhìn xuống con dốc đường Wừu có thể thấy tháp chuông ngôi nhà thờ thấp thoáng sau những tán cây. Khi chiều muộn, tiếng Thánh ca văng vẳng. Trong câu chuyện, anh khách lạ nhận ra đôi khi duyên nợ với một vùng đất lại là những cuộc dấn thân dài lâu và kiên định với một mục đích cao cả, nhưng lắm lúc lại là từ cái việc “đi lên đi xuống” rồi trở thành một người gắn bó với xứ này.

“May mà có em đời còn dễ thương”, câu hát vang vọng trên dàn máy của quán vắng. Vào lúc đó, bên nhà thờ, vị linh mục già bước lên bàn thờ. Hôm nay ông sẽ kể với giáo dân về những cây cầu sắp xây, những con đường sắp tráng nhựa đi vào buôn làng, những mộ phần cho kẻ yếu thế được yên ổn nằm lại trong đất đai xứ sở, để cái lạnh không day dứt trong những ngọn gió về chiều.

Ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông.

 

Tùy bút của NGUYỄN VĨNH NGUYÊN

[Trích từ bản thảo Ngang qua Vườn Cây Dầu]

 

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm