Thứ Ba, 31 Tháng Năm, 2022 12:04

Thánh đường trong tâm tưởng

 

Em nói với tôi rằng em đã mong gặp tôi lâu rồi, chỉ để được biết quan điểm của tôi về chuyện này. Chuyện hệ trọng lắm, liên quan tới đời sống đức tin. Sự nghiêm túc của em khiến tôi bắt đầu thấy lo.

 

Bên phin cà phê chậm rãi rơi từng giọt trong khoảng sân nhỏ nơi làng quê, em bắt đầu truy vấn tôi từ vấn đề xác loài người ngày sau sống lại (vì em thấy qua đại dịch Covid-19, ai nấy qua đời đều phải chuyển thường trú vào trong một hũ tro), chuyện người giàu vào nước Chúa khó như con lạc đà chui qua lỗ kim (theo em, bây giờ đang sốt đất, trong xứ đạo này người giàu xổi nhiều vô kể, cứ theo dụ ngôn này thì họ làm... lạc đà hết sao?; không có họ thì ai hưởng ứng cha xứ xây dựng nhà thờ?) cho đến chuyện giáo dân nhiều người khó khăn, nợ nần sau mấy làn sóng đại dịch mà cha xứ thì suốt ngày chăm chỉ tô điểm cho ngôi nhà thờ bằng hết dự án nọ tới hạng mục kia...

Tôi bảo rằng mình có tài thánh gì mà có thể giải đáp những câu hỏi khó nhằn của em. Chính tôi có khi cũng như em, tự vấn những chuyện như thế, rồi lại... chỉ rước khổ vào tâm. Tôi đi tìm câu trả lời qua sách vở, qua giải đáp của những vị chân tu. Em hỏi ngay, Kinh Thánh thì em vẫn nghe và chiêm nghiệm; nhưng chân tu, thế nào là chân tu?

Tới đây thì tôi thấy ngụm cà phê đắng hơn bình thường trên đầu lưỡi. Tôi nói, ờ thì là, chân tu là người tu trước hết phải có nếp sống đức hạnh để nêu gương cho tín đồ. Em lại hỏi dồn, thế nào là đời sống của một linh mục đức hạnh?

Rõ ràng trong đồng tử và tâm trí mỗi con chiên sẽ hiện lên một hình ảnh chủ chăn lý tưởng riêng của mình. Nói khác đi, hình ảnh chủ chăn thực thụ trong mắt con chiên này có khi sẽ rất khác với con chiên kia. Điều này hết sức bình thường. Nhưng người bên bàn cà phê buổi sáng đó lại cần câu trả lời nhiều hơn vậy. Và một kẻ bị đặt vào thế phải “trình bày quan điểm” có cảm giác như thể bị dồn vào chân tường. Cái khó chẳng ló nổi cái khôn, tôi nói rằng, ờ thì là, ông cha xứ lý tưởng đối với mình là một người có lối sống mục tử khiêm cung, không xa rời cuộc sống giáo dân, thấu hiểu những khắc khoải của giáo dân để có thể noi gương hiệp hành, chí ít là... giúp tôi chia sẻ, hồi đáp các câu hỏi hóc búa như em đang đặt ra đây.

Tôi tìm cách “đào tẩu” khỏi những vấn đề nghiêm trọng bằng cách kể cho em nghe một số câu chuyện về những cha xứ gây ấn tượng về sự đức hạnh mà tôi may mắn gặp, biết trong đời.

Tôi bắt đầu bằng câu chuyện ông cha trong xứ nghèo nơi quê xưa. Một linh mục cực kỳ kỷ luật với bản thân và giáo dân, nhưng ông tạo ra một đời sống nề nếp cho giáo xứ trong thời khốn khó, khi mà bần cùng dễ sinh đạo tặc. Giáo dân nhìn vào sự khổ hạnh và khắc khổ của cha xứ mà nhận ra cứu cánh tinh thần là nguồn ủi an cần hướng tới chứ không phải những nỗ lực xây dựng hình ảnh thế tục. Ở ông cha xứ thời đó không có gì ngoài phẩm chất nghèo khó, dấn thân và nhơn đức. Bước xuống khỏi bàn thờ, cha xứ ra rẫy làm lụng với những con chiên làm thuê làm mướn. Bàn tay trao và nhận Mình Thánh Chúa vì thế mà đều chai sần, nứt nẻ, trầy xước và bầm dập như nhau. Cha xứ ăn chung với những con chiên lao nhọc bữa cơm đạm bạc ngoài đồng và hiểu thấu câu chuyện xương máu của họ nên bài chia sẻ Kinh Thánh của cha xuất phát từ trải nghiệm giữa cuộc bụi đời.

 

Tôi lại kể chuyện ông cha xứ gầy gò đêm đêm đến lớp giáo lý với chiếc xe đạp mini, đều đặn, mưa cũng như nắng (mà tôi đã có dịp kể trong một bài viết khác về lớp giáo lý trong ký ức). Một lần kia tình cờ tôi hay tin cha đến viện dưỡng lão của các linh mục với tài sản mang bên mình vẫn là con ngựa sắt rệu rã nhưng... vẫn còn xài được (dĩ nhiên chỉ mình cha là có thể xài). Lạ thay, tôi nói với em, tôi không còn nhớ những bài học giáo lý hay triết lý uyên bác nào mà cha truyền dạy, chỉ nhớ những câu chuyện mộc mạc cha nhìn thấy trên đường khi đi xe đạp di chuyển từ chỗ nọ tới chỗ kia, thấy hay và ý nghĩa quá nên đem về kể cho bọn nhóc nghe. Những chuyện “du hành bỏ túi” trên yên xe đạp quá đỗi gần gũi.

Và cuối cùng, tôi kể cho em câu chuyện về đời sống của những đan sĩ ẩn mình trong các đan viện với phương châm lao động, chiêm niệm và cầu nguyện. Tôi nói với em rằng, nếu mình biết đời sống đan tu sớm hơn, và Chúa dám gọi một đứa lêu lổng như mình, thì chắc tôi đã có thể là một đan sĩ với con đường hướng tới cuộc gặp gỡ thiêng liêng trong tĩnh lặng chứ không bệ rạc tan nát ngổn ngang như bây giờ. Khổ chế cá nhân, hãm mình và hiệp thông trong đời sống thiêng liêng là điều tôi nghĩ là phẩm hạnh mà chủ chăn trong xã hội thực dụng hào nhoáng hôm nay cần có để gợi mở những hành trình thiêng liêng, cung cấp những liệu pháp lành mạnh nội tâm, thay vì củng cố quyền lực và tô điểm hào nhoáng bằng những “công trình” bề ngoài. Tôi đọc được đâu đó trong một cuốn sách, Đức Giáo Hoàng Phanxicô viết rằng, truyền thống đan tu thực sự cần để phục hưng giáo hội trong thời đại hôm nay.

Tôi lại kể em nghe về những ngày tháng lang thang ở châu Âu, thật bất ngờ khi tôi gặp gỡ nhiều Kitô hữu không phải trong những thánh đường, mà trong Phật viện và pháp môn Phật giáo. Tôi hỏi họ điều gì quyến rũ họ đi xuyên qua những khác biệt tôn giáo để đến với một thực hành nội tâm khác. Họ bảo rằng, qua thực hành tĩnh lặng họ gặp sự cân bằng và chữa lành các sang chấn tâm lý.

Sự tĩnh lặng, cân bằng, các giải pháp thiền định sơ khởi đã mang về cho những con chiên đang trong cơn khủng hoảng hiện đại tìm thấy phương thuốc chữa lành nội tâm. Tôi cũng đọc những cuốn sách viết về sự kết nối tĩnh tâm, Thiền định và cả những sách vay mượn phương pháp Thiền định, cảm thọ khổ đau, chánh niệm và hóa giải những khủng hoảng hiện sinh để thiết lập lại cuộc đối thoại với Chúa. Tôi đã ước gì các bài thực tập cầu nguyện, thực tập tĩnh tâm, thực tập chiêm niệm ở nhà thờ không sa vào sáo mòn, ồn ào, giáo điều và đầy những phán xét quyền uy mà được thực tập, hướng dẫn trong sự thấu hiểu, cởi mở, hấp dẫn và hiệu quả như vậy.

Bây giờ thì em trầm ngâm. Ly cà phê cũng đã vơi. Tôi nói rằng tôi không có một câu trả lời nào cho các vấn đề khó khăn phổ quát mà em nêu ra. Tôi chỉ xin kể thêm câu chuyện trái ngược sau đây.

Rằng tôi có đọc một tùy bút của một vị sư kể về ngôi chùa trong tâm tưởng ông chính là một thảo am vách đất mái lá trong ký ức tuổi thơ, nơi ông tìm thấy được sự vĩnh tịch thuần khiết. Nơi đó chính là một cảnh giới khác nào Kim các tự (Ngôi đền vàng) là biểu tượng của Cái Đẹp trong văn phẩm của Yukio Mishima. Bởi trong thảo am đó có một nhà sư biết đặt đời tu vào cõi tĩnh lặng chẳng màng hào nhoáng thế tục. Bài tùy bút của vị sư nọ gợi cho tôi ý nghĩ về ngôi Thánh đường trong tâm tưởng của truyền thống tôn giáo chúng ta.

Thế nào là một Thánh đường trong cuộc sống hôm nay?

Em nói rằng em đã đứng rất xa để quan sát những dự án bất tận mà cha xứ miệt mài theo đuổi, những món nợ khổng lồ tỷ nọ tỷ kia cơ hồ chẳng bao giờ lấp đầy luôn được các thông báo cha kêu gọi đóng góp trước khi ban phép lành kết thúc thánh lễ. Em xa lạ khi bước vào nhà thờ ngay từ khoảng sân tinh tươm, mọi thứ đều được đập cũ xây mới để ghi dấu ấn vị chủ chăn tháo vát. Em không còn thấy ở nhà thờ có sự liên đới nào với những cảnh đời cơ khổ yếu thế trong giáo xứ. Rằng em không có cơ hội để ngồi chia sẻ với cha xứ những câu hỏi mà em phải tạm để dành, chờ gặp kẻ u mê như tôi, kỳ vọng sẽ có những giải đáp sáng sủa. Em biết để xây được từng ấy hạng mục, cha xứ quá bận rộn trong việc chỉ đạo công trình cho đến huy động vốn. Ngôi giáo đường mà cha theo đuổi khác xa ngôi Thánh đường mà những giáo dân cô đơn như em chờ đợi.

Bằng một chầu cà phê trong khu vườn buổi sáng, làm sao tôi có thể lấp đầy những câu hỏi “hố thẳm” mà em đã để dành cho tôi bấy lâu. Em đã quá kỳ vọng vào một kẻ trôi dạt trong đời và đạo như tôi. Tôi không uyên bác và đắc đạo như em tưởng. Cũng như em, tôi chỉ là một người lữ hành đi tìm ngôi Thánh đường lý tưởng của riêng mình.

Nắng lên cao. Ly cà phê đã cạn trong khu vườn yên tĩnh mà tôi chỉ ghé ngang trong chốc lát rồi lại ra đi. 

 

 

Tùy bút của NGUYỄN VĨNH NGUYÊN

[Trích từ bản thảo Ngang qua Vườn Cây Dầu]

 

 

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm