Thứ Sáu, 25 Tháng Giêng, 2019 11:44

Trong tâm tình lễ hội

 

Có lẽ ít ai đếm hết những lễ hội ở Việt Nam. Quanh năm suốt tháng cứ là hội hè đình đám inh ỏi trống chiêng, xôn xao hò hát, rộn ràng trai thanh gái lịch, áo lục quần điều. Nào hội truyền thống lịch sử (Đền Hùng, Hoa Lư, Thánh Gióng…). Nào hội tín ngưỡng dân gian (Mẫu Liễu, Bà Chúa Kho…). Nào hội vãn cảnh (Hội Lim Quan Họ, Chùa Hương, Vía Bà…). Nào hội các dân tộc (Tung Còn của Tây Bắc, cồng chiên - lúa mới - đâm trâu - trao vòng - bỏ mả… của Tây Nguyên, hội Katê của người Chăm, hội đón Tết mới theo Phật giáo tiểu thừa - Chon Chơman Thơmay của đồng bào Khmer…)...

Của đáng tội. Không riêng gì Việt Nam đâu. Thế giới ngày nay là thế giới đa văn hóa. Qua lễ hội, những dị biệt đang xích lại gần nhau. Từ Olympic, World Cup, Euro Cup đến Asiad, SEA Games. Từ hội nghị cấp khu vực, châu lục cho đến hội nghị thượng đỉnh về môi trường, giáo dục, du lịch, kinh tế... Đâu đâu cũng trình diễn bản sắc văn hóa bằng lễ hội. Hằng năm, vẫn thấy đó đây những hoành tráng, đa sắc màu. Carnaval với vũ điệu Samba của Brasil, đấu bò tót - ném cà chua của Tây Ban Nha, hóa trang của Italia, đường phố - rượu bia của Đức, hoa anh đào - trà đạo của Nhật Bản, lồng đèn - bánh bao trong lễ hội Nguyên Tiêu của Trung Quốc, tạt nước Songkra - múa nến của Thái Lan... Và không lạ gì cả châu Phi nhảy múa mỗi khi trăng lên. Đạo sĩ không giảng thuyết hùng hồn về giáo lý, thần học. Mà họ múa, múa lễ, múa hội. Đạo của họ không phải để chiêm niệm, suy tư, mà là đường đi, là khoảng sân thênh thang để cùng vui, để hóa thân vào một thực tại siêu việt hơn. Múa là mọc thêm lông vũ, chắp cánh của chim, giương vây của cá của rồng, để cùng với gió, nước, lửa mà thăng hoa (Sursum corda). Cầu nguyện lúc này là tĩnh lại, vô ngôn, mà cũng là xuất ngã, nhập thần[1].

Những bé gái đạo Công giáo trong trang phục đám rước, Thanh Hoá thập niên 1920

Lễ hội Việt Nam luôn mang tính cộng đồng, gắn bó trong làng xã, hoặc rộng ra khắp vùng miền cả nước, diễn ra theo chu trình thời gian của nông nghiệp. Từ lễ hội, các phong tục tập quán của dân tộc, địa phương trong các thời đại được tái hiện dưới nhiều loại hình văn hóa nghệ thuật: Âm nhạc, hội họa, điêu khắc, thời trang, mỹ nghệ, vũ đạo, sân khấu (tuồng, chèo, rối, hát hò, trò chơi). Qua lễ hội, con người được hòa mình vào vũ trụ, thiên nhiên, cộng đồng và qua hành động lễ bái, cầu khấn, người ta tìm lại quá khứ, tìm lại chính mình để tĩnh tâm và thanh tịnh, xin trời đất thánh thần mở huệ cho chúng sinh muôn loài. Trang bị cho lễ hội là làm phong phú nghi lễ bằng áo mão cân đai, bằng cờ phướn, lọng kiệu, bằng múa rước trống chiêng. Lễ là phần nghi thức trang nghiêm, thiêng thánh để cầu bái; và hội là những biểu hiện ước vọng được hạnh phúc, ấm no, mưa thuận gió hòa. Chúng tạo thành hai mặt tĩnh và động đan xen vào nhau, đáp ứng nhu cầu tôn giáo và đời thường. Sức sống muôn đời của lễ hội là vậy.

Nhà đạo mình cũng chẳng kém cạnh gì. Lịch Phụng vụ và thời vụ mùa màng cứ nương vào nhau mà vận hành. Khởi đi từ mùa Vọng đến mùa Giáng Sinh. Lên cao trào từ mùa Chay -  mùa Thương Khó đến tuần Thánh và mùa Phục Sinh. Chính ở điểm này mới gọi là “vào mùa” và buông lơi, thả nhịp để “ra mùa” dịp lễ Đức Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Từ mùa Thường Niên (Quanh Năm) với những lễ kính mừng Chúa (Lên Trời, Hiện Xuống, Ba Ngôi, Mình Máu Thánh (Săng-ti), Trái Tim, Làm Vua) cho đến những lễ mừng Đức Mẹ và Chư Thánh. Riêng về Đức Mẹ, có hai tháng (5 và 10) với hai lễ hội lớn: Dâng Hoa và kiệu Mân Côi. Đó là chưa kể các lễ kính, lễ nhớ, lễ khấn, lễ mừng theo lịch Phụng vụ, theo lịch mùa vụ, theo lễ nghi vòng đời (sinh nhật, thôi nôi, lễ bạc, lễ vàng, kim cương, giỗ chạp) và bổn mạng của giáo phận, giáo xứ, đoàn thể, hội dòng và tuần đại phúc - phiên chầu lượt ở mỗi địa phương:

Dù ai xuôi ngược đâu đâu

Nhớ phiên chầu lượt, rủ nhau mà về

Dù ai buôn bán trăm nghề

Tới ngày chầu lượt, nhớ về thông công.

Ngoài ra, người tín hữu Việt Nam ngay từ thuở ban đầu, theo đánh giá của giáo sĩ Đắc Lộ: “Không gì làm tôi xúc động bằng thấy có bao nhiêu giáo dân là có bấy nhiêu thiên thần. Họ có một đức tin vững chắc đến nỗi không ai có thể nhổ ra được… Họ có nhiều thói quen lành thánh như: chuộng nghi lễ, thích đoàn hội (Dòng Ba Đa Minh, Đức Bà Rosa, Kính Danh, Trái Tim Đức Chúa Giêsu, Đức Bà Trên Núi, Ông Thánh Giuse, Ông Thánh Antôn, Các Thánh Tử Đạo, Khuyến Hối, Kẻ Liệt, Hội Hát, Hội Kèn, Phường Trống, Phường Trắc, Phường Bát Âm, Ban Học Trò, Đội Dâng Hoa…), tôn sùng Thánh giá, quý trọng các Bí tích, thích đeo ảnh tượng, quý nước phép, siêng năng nguyện ngắm, giữ chay nhiệm nhặt và đặc biệt là lòng sùng kính Đức Mẹ… Thú thật, lòng sốt sắng của giáo dân không thể thấy ở các nước châu Âu. Thế mà người ta cứ tưởng ngoài châu Âu ra thì toàn là man di mọi rợ cả![2]

Đám rước tại một nhà thờ Công giáo xưa

 

Cũng chính vì vậy mà các giáo đoàn xưa, đặc biệt cha Đắc Lộ đã có nhiều sáng kiến thích nghi với Phụng vụ, đến nay vẫn còn được các cộng đoàn hưởng ứng như Rước lá (dừa), ngắm 15 sự thương khó, kiệu bắt, đọc đoạn, đóng đanh, tháo đanh, táng xác, than mồ…

Thiết tưởng toàn bộ những điều kể trên tuy thuộc phạm trù lòng đạo dân gian, song chúng vẫn có ít nhiều giá trị về mục vụ. Mấy trăm năm qua, dù ở đầu sóng ngọn gió, ông cha ta đã kiên trì giữ đạo, sống đạo, diễn đạo và truyền đạo là nhờ đâu? Tất nhiên là nhờ ơn Chúa. Nhưng một phần là do cái sức sống tiềm tàng, miên viễn của lòng đạo dân gian ấy. Đành rằng cho đến nay, trong con mắt khó tính của những nhà thần học, người Công giáo Việt Nam vẫn yêu thích những sinh hoạt tôn giáo mang tính tập thể, vẫn yêu thích màu sắc, vẫn yêu thích cái không khí ồn ào sầm uất đông vui, trái hẳn với phong cách nghi lễ cầu nguyện, suy ngẫm trong thinh lặng. Đành rằng những sáng kiến bước đầu mang tính thể nghiệm trên chưa hẳn đã thập phần hoàn hảo, chưa hẳn đã đào sâu tín lý, thần học và chưa thể hiện được tính văn hóa nghệ thuật cao. Nhưng trộm nghĩ, nói chung chung thì quần chúng Công giáo Việt Nam ngày đó thuộc tầng lớp dưới, ở nông thôn hoặc từ nông thôn - vì miếng cơm manh áo, vì chiến tranh loạn lạc hoặc vì sự cám dỗ ngọt ngào của kinh tế phồn hoa - chuyển vùng vào các đô thị, trở thành những mảng quần cư hỗn hợp. Họ ít chữ nghĩa, rất khó có thể cầu nguyện riêng lẻ trong thinh lặng như các nhà chiêm niệm thần bí. Dù chắc một điều, họ vẫn muốn, thiết tha muốn - thông qua cộng đoàn và cách cử hành lễ nghi - được đọc kinh chung, cầu nguyện chung, hát chung, đi kiệu chung. Đọc, xướng kinh to tiếng, có cung giọng, ca vãn ngâm ngợi rõ ràng là một nhu cầu máu thịt, như cơm nước mắm muối trong bữa ăn sớm chiều. Được ăn, được nói, được gói mang về. Hạnh phúc ở ngay dưới chân những người tín hữu bình dân, biết đâu chỉ là cái quạt mo phe phảy lúc trời hè oi ả, một nắm xôi - những sản phẩm bé nhỏ của nền văn minh nông nghiệp thủ công ở chốn đồng đất chân quê - để no cái bụng, ấm cái thân và thong dong thư thái. Vậy nên những hình thái sinh hoạt này nhanh chóng được đón nhận một cách nồng nhiệt.

*

Tất nhiên, mọi sự đều có nguyên cớ. Ngược dòng lịch sử, năm 1659, khi đạo Chúa ở Việt Nam chưa bước vào cái tuổi ngũ thập tri thiên mệnh và khi vụ chiêm Xuân đầu mùa của đức tin mới vừa xanh mạ thì Bộ Truyền Giáo đã gởi đến tận tay hai vị chủ chiên tiên khởi của giáo phận Đàng Ngoài - Đàng Trong một thông điệp với những lời lẽ rất thật lòng: “Đừng tìm cách, tìm lý lẽ để thuyết phục các dân tộc thay đổi nghi thức, tập tục và phong hóa của họ, trừ phi điều đó trái ngược hẳn với tôn giáo và luân lý… Đừng đem đến cho các dân tộc ấy cái xứ sở của quý vị, mà chỉ đem đức tin, một đức tin không khước từ, cũng không làm tổn thương các nghi thức và tập tục của bất cứ dân tộc nào. Quý vị hãy tìm cách làm quen với những tập tục đó”.

Bằng con đường tơ lụa của văn hóa - đặc biệt qua kho tàng ngôn ngữ giàu chất thơ nhạc và sức sống tâm linh vồn vã, nồng nàn với lễ hội của người Việt - ông cha ta đã gầy nên được một bếp lửa, đã dọn ra được một bữa cơm gia đình trong cảnh dưa muối đắp đổi qua ngày. Có nghĩa là gạo đã thành cơm và nứa tranh đã thành bè để qua sông mà không sợ đói bụng, đắm đò. Từ ấy, Tin Mừng đã thấm nhập vào đất và người của xứ sở này bằng nhiều cách, ở nhiều mức độ tầng bậc nông sâu, mặn nhạt. Có lúc, tưởng đã hoa trôi dạt thắm, tưởng đã đào liễu một mình. Nhưng với ơn Trên, với vận dụng sáng tạo - thích nghi, Tin Mừng Cứu Độ đã trở thành Đức Tin và Lòng Đạo, thành hơi thở, thành máu thịt trong sinh thể của người tín hữu Việt Nam. Không hẳn như các dân tộc khác, người tín hữu nước ta đón nhận và sống thật dồi dào Tin Mừng của Chúa theo cung cách riêng của mình, của một dân tộc quý sĩ trọng nông, của một phận người tuy vất vả lầm than, nhưng luôn khát khao cháy bỏng được chắp cánh bay lên. Thế rồi, Công Đồng Vatican II, Thượng Hội Đồng Giám mục Á châu đã tiếp sức cho những dặm dài hội nhập. Vừa bồi hồi xa lắc một nẻo về. Vừa mênh mang trăm ngã rẽ đường đi. Rõ ràng hội nhập văn hóa phải là một quá trình, một lễ Vượt Qua, có khi qua Biển Đỏ…

Trộm nghĩ, mình như chim trích vô rừng, làm sao tìm được dấu thơm bao đời trước? Chỉ xin làm gã hát rong, phường xẩm chợ, phủi lớp bụi đã phủ mờ, đưa câu chữ trên những trang sách đã ố vàng kia ra phơi phong lấy nắng gió trước hiên nhà. Những mong ai đó chạnh lòng hiểu cho, nguồn có sâu thì nước mới trong. Đừng ai dại vứt vàng đi, nhặt đất. Thư bất tận ngôn. Ngôn bất tận tình. Tình bất tận ý.

Phủ phục, khấu đầu tạ ơn Thiên Chúa. Thắp nén hương nghiêng mình trước bàn thờ Tiên Tổ Tiền Nhân. Xin mượn cụ Nguyễn Du hai câu thơ để thay lời kết:

Lời quê chắp nhặt dông dài

Mua vui cũng được một vài trống canh

 

----------

Tham khảo

Trong bài, chúng tôi có thảm khảo từ các nguồn sau đây: Văn Học Nam Hà của Nguyễn Văn Sâm, Lửa Thiêng Sài Gòn 1974; Nhạc lý ca điệu Gregorio của Hoài Đức Sài Gòn 1963; Thánh Giáo Kinh Nguyện, Toàn Niên Kinh Nguyện, Mục Lục, Nhựt Khóa, Sách Các Phép, Các Thư Chung; Giáo Trình Sáng Tác Thánh Ca Thánh Nhạc của Tiến Dũng; Truyện An Nam Đàng Ngoài Chí Đàng Trong của Philipphê Bỉnh (Micro film); Lịch Sử Văn Học Công giáo Việt Nam của Võ Long Tê, Tư Duy, Sài Gòn 1965; Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam của Thanh Lãng, Sài Gòn 1967; Sổ Sách Công giáo Các Nhà In Kẻ Sở, Phú Nhai, Quy Nhơn, Tân Định, Nazareth Hồng Kông, Trung Hòa; Tọa Đàm Về Tôn Kính Tổ Tiên, Tòa Tổng Giám mục Huế 1999; Hội Thảo Vaticano II 40 Năm Nhìn Lại do Ủy Ban Giám mục về Văn Hóa tổ chức, TPHCM 2002; Cấu Trúc Trong Tiếng Việt, NXB Giáo Dục TPHCM 1992.

 

LÊ ĐÌNH BẢNG

___________________________________________

1 Trần Cao Tường. Trần Lục, Canada, 1996.

2 Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài. Bản Việt ngữ của Hồng Nhuệ (sđđ).phần linh hồn.

 

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm