Thứ Tư, 30 Tháng Giêng, 2019 11:12

Trư Bát Giới “Rất đời” !

 

Trong văn chương, hình tượng lợn đã xuất hiện khá sớm. Ở Việt Nam, tục ngữ có câu “Tuổi Hợi, nằm đợi mà ăn”, nói đến số phận sung sướng, an nhàn của những người sinh vào năm Hợi (con giáp cuối cùng trong hệ can chi, lịch của người Á Đông). Hay trong bài ca dao “Đương khi lửa tắt, cơm sôi/ Lợn kêu, con khóc, chồng đòi tòm tem”, hình ảnh lợn kêu góp phần thể hiện tính chất căng thẳng của một tình huống bi hài. Trong truyện cười Lợn cưới, áo mới, hình ảnh lợn được nhắc đến để chế giễu tính cách thích khoe khoang. Trong văn học hiện đại Việt Nam, Nam Cao từng mượn mặt lợn để so sánh với gương mặt xấu xí của Thị Nở (Chí Phèo), hay Hoàng Cầm đã mượn hình ảnh mẹ con đàn lợn âm dương trong tranh Đông Hồ để chỉ sự tan đàn xẻ nghé (Bên kia sông Đuống). Nhìn chung, hình ảnh lợn thường xuất hiện thấp thoáng và mang tính chất phụ họa. Tuy nhiên, cũng có không ít trường hợp, lợn đã trở thành hình tượng chính trong tác phẩm lớn, như Trư cuồng (Chuyện ngõ nghèo) của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh, tác phẩm đạt giải Sách hay năm 2018, hạng mục sách văn học. Tuy nhiên, trong số các hình tượng nhân vật lợn, nhân vật để lại ấn tượng sâu đậm và có sức lan tỏa hơn cả có lẽ là Trư Bát Giới, một trong bốn nhân vật chính của tiểu thuyết Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân (1500? - 1582), nhà văn sống vào thời Minh của Trung Quốc. Nhờ sự phát triển của điện ảnh, bộ phim Tây Du ký đã đưa một trong tứ đại kỳ thư của văn chương cổ điển Trung Hoa đến với đông đảo khán giả, trong đó có khán giả Việt Nam. Đến nay, bộ phim đã có nhiều phiên bản khác nhau nhưng đầu tiên và thành công nhất có lẽ là phiên bản năm 1986. Có thể nói, cả trong văn chương và điện ảnh, nhân vật Trư Bát Giới đã chiếm được tình cảm của đông đảo công chúng.

Tạo hình Trư Bát Giới trong bộ phim Tây Du Ký năm 1986

 

TỪ MỘT KẺ DỊ NHÂN

Trư Bát Giới có một lai lịch khá lý thú. Xuất thân của Trư là sự pha trộn giữa cao quý và thấp hèn, giữa hiện thực và kỳ ảo. Vốn là tướng nhà trời, Thiên Bồng nguyên soái vì mạo phạm với Hằng Nga, đã bị giáng xuống trần gian, đầu thai vào một ổ lợn. Từ đó, Trư mang hình hài “dị nhân”, nửa người nửa lợn, nhưng có lẽ phần lợn nhiều hơn nên khiến ai mới gặp cũng vô cùng kinh hãi. Với ba mươi sáu phép thuật, Bát Giới hoàn toàn có thể biến hóa thành người đàn ông khôi ngô, tuấn tú… nhưng y lại thích để nguyên bộ dạng của mình hơn. Đây có thể được cho là một phẩm chất, không màu mè, giả tạo, nhưng cũng có thể chỉ là một biểu hiện của thói lười biếng, bởi xưa nay làm đẹp cũng lắm công phu!

Cái tên Trư Bát Giới được chiết tự ra gồm “Trư” là lợn và “Bát Giới” là tám ranh giới bị kiềm chế, gồm không sát sinh, không trộm cắp, không dâm dục, không nói bậy, không uống rượu, không trang điểm, không nằm ngồi giường quá rộng ăn chay. Cái tên này được Đường Tăng đặt cho đệ tử của mình có lẽ nhằm nhắc nhở học trò tám điều răn ấy. Bên cạnh đó, Quan Âm Bồ Tát cũng đặt cho Bát Giới cái tên Trư Ngộ Năng, nghĩa là con lợn nhận ra khả năng của mình. Tuy cái tên có ý nghĩa và mục đích khác nhưng vẫn có cái gốc “Trư”. Đặc điểm giống loài này cũng chính là căn nguyên tạo nên bản tính của nhân vật.

Lợn vốn là loài phàm ăn, mắn đẻ, lười biếng và ngốc nghếch. Những đặc điểm đó cũng trở thành nét chủ đạo trong tính cách của Bát Giới và chi phối cuộc đời của nhân vật. Nếu không vì tham sắc dục, Bát Giới đã không bị đày xuống trần gian, mang kiếp hình người mặt lợn. Nếu không vì mê thích hưởng thụ, Bát Giới đã đạt thành chánh quả như những người đồng hành với mình. Bát Giới rõ ràng là biểu tượng cho phần Con trong mỗi Con Người. Ngay cả khí giới của y cũng được cho là thể hiện tính tham lam. Chiếc bồ cào là hình ảnh biểu trưng của sự thu gom, vơ vét.

Bên cạnh đó, Bát Giới còn “sân, si” khi hay tị hiềm với Ngộ Không. Không ít lần Bát Giới trốn việc lại tranh công, làm mất hòa khí giữa thầy - trò, huynh - đệ, nhiều lần làm hỏng việc, thậm chí nối giáo cho giặc. Một nhân vật xấu xí cả về ngoại hình lẫn tính nết như vậy nhưng tại sao Trư Bát Giới lại được công chúng yêu thích? Nếu thiếu đi nhân vật này, chắc chắn tác phẩm sẽ không được công chúng đón nhận nồng nhiệt đến vậy.

 

ÐẾN TỊNH ÐÀN SỨ GIẢ

Trư Bát Giới có một vị trí không thể thay thế. Trong bốn thầy trò Đường Tăng, Bát Giới vừa có vai trò là một thành tố cơ hữu, lại vừa là một đối trọng. Thật vậy, bốn thầy trò Đường Tăng từng được cho là tượng trưng cho bốn khí chất của con người. Nếu Đường Tăng là người đa sầu, đa cảm, hay “thương vay khóc mướn”, là biểu tượng của khí chất ưu tư; Ngộ Tịnh là con người điềm đạm, kiên định, đại biểu của khí chất thanh thản; Ngộ Không luôn năng động, linh hoạt và nhiệt tình, là hiện thân của khí chất hăng hái…, thì Bát Giới tham lam, bất cẩn, tùy tiện, rất sát hợp với khí chất nóng nảy. Vì lẽ đó, có thể nói, nếu thiếu Bát Giới, bộ mặt tinh thần của con người ở phương diện khí chất sẽ không được phác họa đầy đủ. Hơn nữa, cả ba khí chất kia ít nhiều đều có yếu tố tích cực, trong khi khí chất nóng nảy lại mang tính tiêu cực nhiều hơn. Nói cách khác, ở ba nhân vật kia, tính Người đậm nét hơn, còn ở Bát Giới, phần Con rất rõ rệt. Như vậy, Bát Giới giữ vai trò đối trọng, kéo con người về phía bản tính tự nhiên. Điều này khiến cho Bát Giới trở nên rất gần gũi, rất “đời”. Hơn nữa, việc Bát Giới chỉ dừng lại trước ngưỡng cửa của Phật khi nhậm chức Tịnh Đàn sứ giả chuyên lo đón tiếp, thu nhận cống phẩm đã kéo cõi Phật gần lại với cõi Người hơn. Bát Giới chính là sứ giả gắn kết Niết Bàn với trần gian.

Tượng nhân vật Trư Bát Giới - ảnh: internet

 

Bên cạnh vị trí và ý nghĩa biểu tượng đặc biệt, tạo hình nhân vật Bát Giới còn được công chúng đón nhận bởi những nét đáng yêu. Nếu như Đường Tăng là hiện thân của cái cao cả, sống vì nghĩa lớn; Ngộ Không là hiện thân của cái đẹp, vẻ đẹp của trí tuệ và lòng quả cảm; thì Bát Giới là hiện thân của cái hài. Sự xuất hiện của Bát Giới luôn đem lại tiếng cười, làm dịu bớt không khí trang nghiêm, làm tăng thêm sắc màu cho cuộc sống và giúp con người thêm tươi trẻ. Tiếng cười có thể được tạo nên từ việc phát hiện ra cái thiếu hài hòa trong ngoại hình, sự quá lố trong hành động của Bát Giới, cái nghịch dị trong hình hài và thân phận của nhân vật với sứ mệnh mà nhân vật theo đuổi… Đặc biệt, những thói xấu của Bát Giới không phải là không có trong mỗi chúng ta. Cười Bát Giới, con người đang muốn chế ngự phần chưa hoàn thiện trong bản thân mình. Suy cho cùng, Bát Giới tuy xấu tính nhưng vẫn là một anh chàng “vô hại” và những thói tật ấy hoàn toàn có thể sửa chữa. Nhà văn đã dùng tiếng cười hài hước để phơi bày những mặt trái của con người chứ không mượn cái hài mang tính đả kích để lên án những cái xấu vô phương cứu chữa. Vì vậy, tác giả luôn để cho Bát Giới dừng lại ở những hành động vụng về, dở hơi, ngô nghê và trẻ con, do đó dễ dàng được xí xóa bởi lòng “vị tha” của người đọc. Đó là chưa kể, đôi lúc, Bát Giới cũng tỏ ra được việc và mình là người sống có tình cảm. Bát Giới nhiều lần bàn tính chuyện quay về vì lòng trần chưa dứt, bởi hắn còn có “gia đình” với người vợ xinh đẹp mà y không nỡ chia tay. Thế nhưng, Bát Giới luôn gắn bó với sư phụ và huynh đệ của mình suốt hành trình gian khổ, đã góp phần không nhỏ trong việc bảo vệ, chăm sóc sư phụ, kể cả hàng phục yêu tinh cho đến ngày thỉnh được chân kinh. Đó chính là công đức không thể không tính đến của nhân vật trong hành trình vượt lên chính mình, đi tìm chân lý.

Trư Bát Giới là một nhân vật rất đặc biệt, từ ngoại hình cho đến lai lịch, tính cách và số phận. Ở Bát Giới, có sự hòa trộn giữa giữa hư và thực. Tuy là nhân vật hư cấu nhưng lại mang những biểu hiện chân thực của con người. Ngược lại, tuy thể hiện những chân lý phổ quát của cuộc sống nhưng nhân vật lại được thể hiện trong hình thức kỳ ảo và ngộ nghĩnh. Trư Bát Giới rất gần gũi với truyền thống trào tiếu dân gian, thể hiện tinh thần lạc quan của một số đông nhân loại. Mặt khác, việc quan tâm đến bản tính tự nhiên tồn tại trong mỗi con người lại khiến hình tượng nhân vật mang đậm tinh thần nhân văn chủ nghĩa, một trào lưu được thịnh hành ở phương Tây, cùng thời điểm với quá trình sống và viết của Ngô Thừa Ân. Đối với công chúng Việt Nam, không phân biệt tuổi tác, giới tính, địa vị…, Trư Bát Giới là một nhân vật rất được yêu mến.

 

TS Nguyễn Thị Hồng Hạnh

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm