Thứ Tư, 12 Tháng Mười Hai, 2018 16:15

Từ một tử tội, trở thành người giúp việc triều đình

 

Ðó là khúc quanh trong cuộc đời của linh mục Gioakim Ðặng Ðức Tuấn (1806-1874). Thân thế và cuộc đời của ngài là một bi hùng kịch.

 

Từ một cậu bé miền quê ở làng Quy Thuận, tổng An Sơn, huyện Bồng Sơn, tỉnh Bình Định, Đặng Đức Tuấn đã miệt mài đèn sách, 19 tuổi đi thi Hương trường nhất, trường nhì, bài làm đều xuất sắc, sang trường ba, đề viết thiếu một chữ bị đánh hỏng vì phạm trường quy. Về sau, do chính sách bài đạo của vua Minh Mạng rồi ảnh hưởng cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi ở miền Nam, Đặng Đức Tuấn về làng mở lớp dạy học, không  tiếp tục con đường khoa bảng nữa.

Bài thơ Ngự đề chữ Hán của vua Tự Đức tặng linh mục Đặng Đức Tuấn

 

Tháng 7 năm 1840, Giám mục Cuénot chính thức tiếp quản địa phận Đông Đàng Trong, bất chấp chông gai, thử thách, Đức cha đã thiết lập Tiểu Chủng viện Di Loan ở Quảng Trị và Lái Thiêu ở Bình Dương, cổ võ ơn gọi, huấn luyện và gởi qua Chủng viện Pênăng (Mã Lai) du học. Tại Pênăng lúc đó đã có một số chủng sinh Việt Nam. Ngoài những môn học của trường, họ còn buộc phải học thêm chữ Hán, Nôm và Quốc ngữ. Cần một thầy giáo cho nhu cầu này, Đức cha thông báo mọi nơi. Có người đã đề nghị thầy giáo làng Đặng Đức Tuấn, người Công giáo tốt, còn độc thân và cũng sẵn lòng  giúp Giáo hội. Thầy Tuấn được Đức cha chuẩn nhận và gởi vào Lái Thiêu chờ tàu đi Pênăng. Đời tu của thầy bắt đầu mở ra từ đó. Tại Pênăng, thầy Tuấn vừa theo học các môn Triết học và Thần học của trường, vừa dạy kèm các chủng sinh Việt Nam về Hán Nôm và Quốc ngữ. Sau khi chịu chức phó tế, thầy trở về Việt Nam giúp Đức cha Cuénot, hơn một năm sau thì thụ phong linh mục và được sai đi coi xứ trong khi lệnh cấm đạo càng ngày càng gắt…

Ngày 24.10.1861, Đức cha Cuénot bị bắt tại nhà bà Lưu, một giáo dân ngoan đạo ở cách Gò Bồi (Bình Định) vài dặm. Ngài bị đóng gông đưa về giam tại nhà lao Bình Định, bị tra tấn trong khi bị bệnh kiết lỵ nên đã chết trong tù ngày 14.11.1861.

Phần cha Tuấn, nghĩ rằng Bình Định tương đối bình an nên trốn vào đây, nào ngờ Đức cha bị bắt, các cha phải phải chạy trốn khắp nơi. Trước cảnh tang thương của Hội Thánh, Pháp lại xua quân vào Nam chiếm thành Gia Định, Định Tường, Biên Hòa… Vua quan Việt Nam cho rằng Công giáo câu kết với giặc nên việc bắt đạo lại càng ráo riết. Trước tình thế này, cha Tuấn đã làm 2 bản Điều trần 1 và 2 gồm 6 trang, dự tính lỡ bị bắt thì đã có kế sách chống giặc và giải oan cho đạo… Khi cha trốn ra Nga Mân thuộc huyện Mộ Đức (Quảng Ngãi) thì bị bắt (khoảng đầu tháng 12.1861). Quan tỉnh đọc bản Điều trần thấy hay liền tâu lên vua Tự Đức. Thế là thay vì lệnh chém đầu Datô đạo trưởng, cha Tuấn được vua và triều đình nể trọng, mời giúp việc triều đình. Nhà vua cũng phần nào hiểu nỗi oan của đạo khi đọc các bản Điều trần, dần dần mở lòng khoan dung với người theo đạo.

Sau khi đã hết lòng giúp vua và triều đình, cha Tuấn xin được về quê nghỉ dưỡng và lo việc đạo, triều đình luyến tiếc muốn ngài ở lại kinh một thời gian nữa, còn vua Tự Đức thì ban bài thơ ngự đề cho ngài. Kịch tính lên tới cao trào ở chỗ từ một tử tội lên chức “khâm sai” triều đình, đã được tặng thơ ngự đề bởi một ông vua cấm đạo gắt nhất, chém giết nhiều vị tử đạo nhất (trong 117 vị thánh tử đạo Việt Nam và 1 chân phước (Anrê Phú Yên), từ thời Lê Trịnh tới Tây Sơn có 6 vị, thời Minh Mệnh có 44 vị, thời Thiệu Trị có 18 vị, thời Tự Đức có 50 vị). Trong bài thơ, nhà vua tỏ lòng tiếc nhớ, khen bản Điều trần của linh mục Đặng Đức Tuấn và mong có ngày được gặp lại: “Mai mốt triều đình như có việc/ Chiếu rồng sẽ gởi cửa then cây”. Quả như lời, có đôi lần vua Tự Đức đã mời cha Tuấn ra Huế bàn quốc sự, cho thấy sự tin yêu của nhà vua đối với ngài.

 

Lm Giuse Nguyễn Hữu Triết

Trưởng ban Mục vụ Văn hóa TGP.TPHCM

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm