Trong sách giáo khoa môn Mỹ thuật thế hệ 9x, học sinh đã biết sơ lược về bức bích họa vĩ đại trên trần nhà nguyện Sistine (Vatican). Khi thế hệ học sinh ấy lớn lên, số ít người đam mê nghệ thuật tiếp tục tìm hiểu về kiệt tác đó và nhận ra nhiều điều thú vị. Hình ảnh bộ não, tử cung, dây rốn và một số nội tạng khác ẩn trong bích họa, minh chứng cho việc tác giả Michelangelo đã khéo léo lồng ghép kiến thức giải phẫu học vào tranh, đã lách những quy định ngặt nghèo thời Phục Hưng, tạo ra sự dung hòa tuyệt mỹ giữa tôn giáo và khoa học.

Bích họa điện Sistine đã đem lại danh vọng to lớn cho Michelangelo, khiến công chúng nghĩ rằng ông rất tâm huyết với tác phẩm này và tạo ra nó trong niềm say mê, thích thú. Tuy nhiên, thực tế lại khác hẳn. Michelangelo vốn là thiên tài điêu khắc, đã để lại cho đời hai bức tượng David và Pietà (Đức Mẹ sầu bi) khiến bao thế hệ trầm trồ. Ông thích thổi hồn vào đá bằng con dao cái đục, thích chậm rãi và tỉ mẩn gọt đẽo nên dáng hình mình tưởng tượng. Vì vậy, ông không ưa phương pháp vẽ bích họa, tiếng Ý là fresco.
Kỹ thuật vẽ bích họa đã xuất hiện từ thời Hy Lạp và La Mã. Sang thời Phục Hưng, kỹ thuật này vẫn được ưa chuộng trong trang trí kiến trúc nhờ chi phí phải chăng, độ bền cao và màu sắc lâu phai. Mặt trái của bích họa là quá trình làm việc vô cùng vất vả, yêu cầu tốc độ, sự tập trung và chính xác. Khi vẽ bích họa, trước tiên họa sĩ phải trộn vữa bằng vôi, cát và nước theo tỷ lệ phù hợp. Sau đó, vữa cần được trát thật đều và phẳng phiu lên khoảng tường/ trần nhà cần vẽ. Trong khoảng 7-8 giờ đồng hồ, khi lớp vữa còn ướt, họa sĩ phải nhanh chóng vẽ cho xong. Nếu vẽ kịp, lớp màu sẽ ngấm sâu vào vữa, hòa làm một với tường/ trần nhà và duy trì rất lâu. Nếu vẽ không đủ nhanh, vữa sẽ khô và màu không ăn nữa, họa sĩ phải cạo sạch, trát lớp vữa mới rồi bắt đầu lại. Vẽ sai một chi tiết cũng phải cạo đi làm lại từ đầu. Ngoài ra, họa sĩ còn phải tính toán trước màu sẽ thay đổi thế nào sau khi vữa khô đi, từ đó pha trộn bột màu hợp lý. Vì tính chất như vậy, người ta buộc phải chia bức tranh ra từng phần nhỏ, mỗi phần trát một lớp vữa rồi tô màu thật chính xác, đợi phần đó khô mới có thể tiếp tục.
Đối với Michelangelo, quá trình vẽ bích họa rất mệt mỏi, căng thẳng và luôn phải chạy đua với thời gian. Xui cho ông, những đối thủ cạnh tranh đã cố tình đề cử ông với Đức Giáo Hoàng Julius II, vị giáo hoàng nổi tiếng nóng tính và cầu toàn, để ông đảm nhận trang trí trần điện Sistine. Những kẻ đó tin chắc Michelangelo sẽ thất bại thảm hại và bị giáo hoàng trừng phạt. Khi hay tin, ông đã cầu xin giao việc cho người chuyên về hội họa như Raphael, không phải dân điêu khắc như ông, nhưng bị từ chối.
Vừa nuốt nước mắt, Michelangelo vừa dốc sức vẽ bích họa cho nhà nguyện Sistine từ năm 1508 đến 1512. Trong 4 năm khổ ải, ông đứng trên giàn giáo cả ngày, đầu ngẩng một góc 90 độ, hai tay giơ thẳng lên cao để vẽ. Di chứng để lại nặng đến mức nhiều năm sau khi hoàn thành bích họa, Michelangelo không thể cúi đầu đọc thư mà phải giơ bức thư lên cao quá đầu. Màu vẽ chứa nhiều hóa chất độc hại cứ thế nhỏ giọt lên mặt và mắt ông, gây suy giảm thị lực nghiêm trọng và lở loét da. Những kẻ đố kỵ tưởng ông sẽ thất bại hoặc gục ngã, nhưng Michelangelo vẫn lội ngược dòng, dùng kiến thức và tài năng làm nên một kiệt tác để đời. Tên tuổi ông càng thêm sáng chói nhờ bức tranh vĩ đại trên trần điện Sistine.
Giờ đây, khi đã biết quá trình lao động miệt mài, cực nhọc của Michelangelo, có lẽ ta sẽ nhìn bích họa trần điện Sistine bằng con mắt khác xưa - không chỉ ngưỡng mộ tác phẩm mà còn khâm phục tác giả. Ông đã vượt qua cái bẫy của những kẻ ganh ghét, vun trồng đóa hoa rực rỡ trong gian khổ. Không những vậy, ông còn tinh tế lồng ghép yếu tố giải phẫu học vào một bức họa tôn giáo, từ đó tôn vinh Chúa và vẻ đẹp thân thể con người. Câu chuyện Michelangelo vẽ bích họa nhà nguyện Sistine là minh chứng cho câu nói: “Mỗi điểm yếu đều chứa đựng một nguồn sức mạnh bên trong” (Shusaku Endo).
Ths-Bs Lan Hải
Bình luận