Giữa khu chợ Côn Đảo một buổi sáng mùa hè, cậu bé Minh Khôi (9 tuổi, phường Phú Thọ, TPHCM) đứng khá lâu trước quầy bán mứt hạt bàng. Cậu lắc đầu khi mẹ đề nghị thử một miếng: “Con tưởng hạt bàng chỉ để chơi chứ ai ăn”.
Thay vì mua ngay, chị Trần Ngọc Mai dẫn con sang gốc bàng cổ thụ gần đó. Hai mẹ con nhặt vài trái bàng rụng, chị cầm một trái lên, chỉ cho con thấy từng lớp vỏ dày rồi cắt nghĩa phải mất rất nhiều công mới tách được phần nhân bé xíu bên trong. Không quên kể chi tiết người dân trên đảo từ lâu đã tận dụng loại hạt này để rang, làm mứt, và trở thành món quà đặc trưng của Côn Đảo. Chị lại đưa cho con một miếng hạt bàng nhỏ. Lần này, Minh Khôi không từ chối nữa. Rời Côn Đảo, trong ba lô của cậu có thêm vài hộp mứt hạt bàng mua để mang về tặng ông bà. Điều khiến chị Mai vui hơn cả không phải con thích món ăn ấy, mà là lần đầu tiên con hiểu vì sao một món quà nhỏ lại gắn với đất đai, cây cối và cuộc sống của người dân trên đảo.

Mỗi chuyến du lịch, gia đình anh Nguyễn Hoàng Phúc (phường Xuân Hòa, TPHCM) lại có một điểm đến mà hai con thường không mấy hào hứng là chợ truyền thống. Trong khi nhiều du khách tìm quán cà phê đẹp để chụp ảnh, anh Phúc lại dắt các con len vào khu chợ địa phương. Anh cười giải thích: “Muốn biết một nơi sống ra sao thì cứ đi chợ”. Ở Huế, cả nhà ăn cơm hến trong một quán nhỏ. Hai cô con gái nhăn mặt vì vị cay và mùi ruốc. Anh không ép, thay vào đó chỉ kể ngày trước người lao động ven sông Hương tận dụng hến để chế biến thành món ăn bình dân. Rồi sau bữa cơm dẫn các con đi mua mè xửng, kẹo cau, kẹo gương để nghe người bán trò chuyện về những món quà tuổi thơ xứ Huế. Đến miền Tây, các con được nếm thử mắm cá linh, cá sặc. Lần đầu chỉ dám chấm rất ít. Đến chuyến thứ hai, các bé đã chủ động hỏi người bán vì sao vùng này lại có nhiều loại mắm đến thế. “Các con không cần thích ngay. Chỉ cần dám thử và chịu hỏi là được” - anh Phúc nói. Điều anh Phúc mong nhất là sau này khi nghe nhắc đến Huế hay miền Tây, các con không chỉ nhớ đến cảnh đẹp, mà còn là hương vị và câu chuyện văn hóa của những vùng đất ấy.
Với chị Lê Thu Hà, giáo viên tiểu học ở phường Thủ Đức, TPHCM, những bài học về ẩm thực không nhất thiết phải bắt đầu từ một chuyến du lịch xa. Cuối tuần, chị thường đưa cậu con trai 12 tuổi đến các lễ hội ẩm thực hoặc những phiên chợ quê được tổ chức ở thành phố. Có lần, cậu bé nhất quyết không chịu ăn bánh lá, cho rằng “nhìn không hấp dẫn bằng hamburger”. Thay vì trách con, chị mua một chiếc rồi cho biết ngày xưa bà ngoại vẫn gói bánh bằng lá chuối mỗi dịp giỗ chạp, nguyên liệu đều từ những thứ có sẵn trong vườn. Cậu bé vốn thương bà, nghe vậy liền bóc lớp lá rồi cắn thử. Sau này cậu thường là người chủ động hỏi: “Ở đây có món gì đặc biệt hả mẹ?” - câu hỏi mà chị Hà mong con giữ mãi khi lớn lên.

Ngày nay, trẻ em thành phố lớn lên giữa vô vàn lựa chọn. Chỉ cần vài thao tác trên điện thoại là có thể gọi đủ loại thức ăn nhanh, món Âu, món Hàn hay trà sữa. Không ít em trở thành những người “kén ăn”, quen với những hương vị được chuẩn hóa và ngại thử những món lạ. Trong khi đó, mỗi món ăn địa phương lại giống như một tấm bản đồ thu nhỏ về văn hóa. Thổ nhưỡng quyết định cây trái, khí hậu tạo nên nguyên liệu, và tập quán sinh hoạt hình thành cách chế biến. Mỗi đặc sản, vì thế, đều kể một câu chuyện về chính con người và xứ sở ấy.
Những người làm cha mẹ như chị Mai, anh Phúc hay chị Hà không kỳ vọng con sẽ thích tất cả các món ăn vùng miền. Họ chỉ mong con đừng vội từ chối trước khi hiểu về món ăn ấy. Bởi đôi khi, hành trình khám phá văn hóa không bắt đầu từ một bảo tàng hay một cuốn sách lịch sử, mà chỉ bắt đầu bằng một miếng mứt hạt bàng, một tô cơm hến hay một gắp mắm cá được nếm thử với tất cả sự tò mò của tuổi thơ. Chính từ những hương vị đầu đời ấy, một đứa trẻ sẽ học được cách yêu thêm những vùng đất mình đã đi qua, cũng như biết trân trọng sự đa dạng của văn hóa.
Bảo Bình
Bình luận